Trường đại học Nhật sử dụng thời gian như thế nào?

 

 - Sang Nhật, lần đầu tiên tôi biết đến khái niệm 1 tiết học là 90 phút. Và có những ngày trong tuần là 6 tiết ở trường. Từ 9 giờ sáng đến 7 giờ tối.

Đại học Kinki, Nhật Bản - ngôi trường tác giả đang theo học

Tôi là một sinh viên Việt Nam. 16 năm đi học, tôi quen với khái niệm một tiết học 45 phút. Trong giờ học, nhiều lúc có thể làm bài tập về nhà của môn khác, có thể nói chuyện rúc rích, cười đùa, chuyền giấy, ăn quà vặt dưới hộc bàn, nghe nhạc, đọc truyện, ngủ, lên Facebook, lướt mạng... và thậm chí bất cứ việc gì có thể giết thời gian khác. Đồng ý là không phải lúc nào cũng do giáo viên dạy chán mà do học sinh nghịch.

Sang Nhật, lần đầu tiên tôi biết đến khái niệm 1 tiết học là 90 phút. Và có những ngày trong tuần là 6 tiết ở trường. Từ 9 giờ sáng đến 7 giờ tối.

Giữa các tiết là 10 phút nghỉ giải lao. Và nghỉ trưa là 1 tiếng. 1 tiếng đồng nghĩa là không có khái niệm về nhà ăn cơm, chợp mắt một giấc ngắn rồi đến trường. Nếu không tự làm cơm hộp thì xuống canteen mua cơm hộp bán sẵn. Nếu tiết buổi chiều có bài kiểm tra thì 1 tiếng nghỉ trưa ít ỏi đó còn cần ôn lại bài.

Thú thực, 1 tuần học đầu tiên tôi đã cảm thấy mình theo không nổi. Suốt 1 tiết học, học nghĩa là học, không 1 giây nào hở ra để chơi hay đầu óc bay bổng đi chỗ khác. Đầu óc phải hết sức tập trung, vì giáo viên nói 2 câu lại đặt câu hỏi 3 câu. Và đương nhiên phải suy nghĩ ngay để trả lời luôn. Sai thì thôi. Sẽ được sửa. Nên khái niệm sợ sai cũng không tồn tại.

Học với tốc độ rất nhanh. (Ví dụ học từ đầu đến xong trình độ N3, tương đương 6,0-6,5 Ielts bắt đầu từ hello, good bye. Ở trường nào học 2 năm hay 1,5 năm còn trường này và nhiều trường khác là 3-4 tháng. )

Nhanh nhưng không hề lướt. Mà thậm chí một chữ trong hơn chục quyển sách giáo trình đủ các kĩ năng, không bị bỏ sót chữ nào. Mẫu câu nào cũng đọc, bài nào cũng làm, chỗ nào trống là điền. Tôi có cảm tưởng trừ phần giới thiệu tác giả của mỗi quyển sách là bỏ qua, còn mục lục cũng không trừ lại. Liên tục và liên tục. Đọc viết nghe hỏi trả lời hiểu dịch suốt 90 phút/ tiết.

Tuần đầu tiên sau khai giảng, tôi thấy mình như một cái chong chóng, quay tít mù mỗi ngày. Ví dụ, bình thường trước các bài tập, giảng viên sẽ cho sinh viên suy nghĩ 5-15 phút tuỳ mức độ khó dễ. Ở đây, để tiết kiệm thời gian học cái khác, thời gian suy nghĩ luôn là các mốc 5 giây, 10 giây và 15 giây. Vì thế não đương nhiên phải hoạt động cật lực. Ít nhất để theo kịp bài giảng. Chưa kể khả năng nghe hiểu phải đủ tốt để nghe giải thích bài giảng. Không tốt cũng phải tốt, vì hết chọn lựa rồi.

Sinh viên thoải mái chơi nhạc cụ giữa sân trường. Ảnh chụp tại ĐH Kinki, Nhật Bản.

Ở Nhật vì giờ làm việc muộn, 11 giờ tối các ga tầu rất đông đúc người tan sở trở về nhà. 11 giờ tối bên này cảm giác như 7 giờ tối ở Việt Nam vậy. Nên sáng các hoạt động thường bắt đầu từ 9h, quán xá, trường học, ngân hàng, bệnh viện, bưu điện...

Nhưng dù bắt đầu từ 9h cũng không phải muộn đâu, vì người Nhật không có thói quen ngủ trưa, và làm việc từng giây từng phút một. Đi làm về muộn, thậm chí về nhà chuyến tàu cuối cùng là 12 rưỡi đêm. Nhìn cách các thầy cô người Nhật làm việc mới thấy họ nghiêm túc với thời gian như thế nào.

Trong giờ dạy, không có khái niệm lên Facebook, tuyệt đối không nghe gọi điện thoại, không bao giờ đến muộn, không bao giờ tự ý đi đâu dù là 1 phút mà không thông báo. Mà nếu có đi cũng là photo tài liệu giấy tờ cần cho buổi học. Thường là cần chuẩn bị trước giờ học. Nếu có nhầm lẫn hay thay đổi, mới ra ngoài. Và trước khi đi bao giờ cũng xin lỗi. Sau khi về luôn là thở gấp gáp vì đã đi vội vã. Họ không "dám" phí phạm một giây nào của sinh viên.

Sinh viên học đúng 90 phút mỗi tiết thì giảng viên cũng không có tích tắc nào ngồi không. Họ cùng làm bài tập như sinh viên, cùng làm bài kiểm tra như sinh viên, sau đó đối chiếu lại. Chứ không phải rảnh rang rồi lấy bài giải in sẵn ra so.

Tự nhiên tôi nhớ đến có vị giáo viên, một quyển giáo án 20 năm chép lại cho đẹp 2 lần. Và cũ mèm nội dung. Và sáo mòn từng dấu câu chấm phẩy. Và luôn đọc chép. Thậm chí nội dung cũng là sao lại tổng hợp có biên tập từ sách giáo viên. Tôi nghĩ nếu muốn tự hào nghề nghiệp, trước hết phải có tự trọng với nghề đã. Nếu không hài lòng thì nên chấp nhận với chọn lựa. Đừng bao giờ bảo không có chọn lựa vì bạn làm nó nghĩa là bạn chọn nó rồi. Kể cả làm vì ai hay ai bắt làm.

 

Nước Nhật là một đất nước đứng lên thần kì từ đống tàn tích nát vụn của chiến tranh. Quanh năm cũng thiên tai khắc nghiệt. Nhiều đến nỗi người ta còn chẳng sợ nữa. Con người là điều làm thay đổi từ quá khứ đến hiện tại. Đầu tư chú trọng vào giáo dục. Là đầu tư có lãi về con người.

Bảo vệ trường lịch sự đứng thành hàng để chỉ dẫn chỗ để xe đạp cho sinh viên trong bãi gửi xe. Câu họ luôn nói là: "Xin mời"

Người Nhật rất hay động viên, khích lệ nhau. Đôi khi người nhận thấy áp lực. Nhưng đa số là biến thành động lực để thể hiện lòng biết ơn. Tôi đang nghĩ nếu nước Nhật không kéo nhau lên mà thay vì lôi nhau xuống trong đố kị, ích kỉ thì giờ nước Nhật đã ra sao? Đi học, tôi luôn được khen rất nhiều. Tôi hiểu, thầy cô không khen cho vui. Nhưng các mức khen chung dành cho sinh viên thường là khá và tốt.

Đi học hơn 2 tháng, chỉ có 3 lần tôi đặc biệt được khen là xuất sắc. 2 bài viết luận và 1 bài thuyết trình ngắn. Và với tần suất 2 ngày 1 bài kiểm tra. Tôi đã rình điểm 100/100 nhưng vẫn chưa thể. Một bài kiểm tra 20 phút với 2 mặt giấy A4 kín đặc chữ.

Trong khi các bạn Trung Quốc, Đài Loan đã luôn đọc hiểu nhanh gấp đôi khả năng nhận biết mặt chữ của tôi. Nhưng điểm số luôn là 96,97,98. Vì tôi luôn có chỗ thiếu sót hoặc nhầm lẫn để bị trừ. Chẳng hạn như hôm nay, sau 8km đạp xe hộc tốc giữa mưa cho kịp giờ. Tôi vừa ngồi xuống ghế và 3 giây sau là bài kiểm tra ở trước mặt. Thở một hơi dài, uống 1 ngụm nước và lao vào chiến đấu. 1 điểm bị trừ là do tôi thiếu 1 dấu nét 1mm. Chỉ thế thôi. Nhỉnh hơn dấu chấm một chút. Và mất 1 điểm. Tôi nhận ra, người Nhật có thể luôn cổ vũ, nhưng khi đánh giá kết quả luôn nghiêm khắc hết mức. Trong công việc, hẳn cũng vậy. Đấy là lý do nhiều người bị căng thẳng. Họ không sợ gì thiệt thòi về phía họ, họ sợ phụ sự động viên đã được cho.

Tôi nghĩ mình không cần rình điểm 100 nữa. Vì còn trẻ mà, sai để nhớ chỗ sai. Và nhớ luôn cả cách sửa lại cho đúng. Còn điểm số, luôn là nhất thời thôi. Mà ai tự hào mãi mãi về những thứ nhất thời được.

Một bài viết khác, tôi sẽ kể lý do vì sao mà giờ tôi thấy đi học nhẹ nhàng như đi chơi vậy. Và rất muốn đi học. Tôi không biết nước Nhật của người khác như thế nào. Nước Nhật mà tôi biết là một thiên đường giải trí. Và trường học đã chèn những giờ học ngoại khoá và các hoạt động thú vị đến thế nào mà 10 giờ tối mỗi ngày sinh viên vẫn ở trường đông vui như party vậy.

***

Đại học Kinki, phía Tây Nhật Bản 

Vì nhận được rất nhiều điều tích cực xung quanh, nên mỗi ngày đạp xe đi học, những lúc ngẩng đầu lên cao. Tôi luôn thấy một bầu trời xanh trong hy vọng. Bởi vì đúng như thầy cô ở trường ĐH bây giờ tôi học và ở trường ĐH năm sau nghiên cứu sinh thạc sỹ đã kỳ vọng. Họ muốn dù bây giờ có rất khó khăn, có nghiêm khắc. Nhưng qua được giai đoạn vất vả này, tôi đã được đào tạo một cách dốc hết nhiệt huyết nhất để trở thành một người sẽ có ích đối với nước Nhật.

Nói như giáo sư sẽ hướng dẫn đề tài nghiên cứu sinh chuyên ngành ngôn ngữ của tôi: "Tôi rất thích ước mơ của em. Tôi sẽ góp phần giúp em thực hiện điều đó."

Giá mà có nhiều được gọi là "người lái đò" ở Việt Nam thay vì trách chở bao nhiêu chuyến qua sông không thấy ai quay lại. Có thể tự hào nghề nghiệp mà nói rằng: "Tôi sẽ đưa em đi một quãng trên đường đến ước mơ mà em muốn thực hiện."

Đầu tư niềm tin cho một thế hệ sẽ trưởng thành. Là nhận lại nhiều hơn những gì tốt lành có thể tưởng tượng.

  • Nhật Linh

(Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân về giáo dục Nhật)

Cách tạo giáo viên giỏi của Phần Lan

 

Thủ tướng Anh David Cameron cho rằng chúng ta cần đào tạo những sinh viên thông minh nhất trở thành giáo viên. Tuy nhiên, các trường đại học Phần Lan chỉ chọn 10% thí sinh đăng ký ngành sư phạm và họ không phải là những người thông minh nhất.

Xem tiếp...

Đại học danh giá bậc nhất nước Anh qua ảnh

 

Đại học Oxford là một trong những trường lâu đời ở Anh, thường xuyên lọt vào danh sách những đại học tốt nhất thế giới.

Đại học Oxford, còn gọi Viện đại học Oxford, là viện đại học nghiên cứu liên hợp ở Oxford, Anh. 
Trường gồm nhiều cơ sở, trong đó có 38 đại học thành viên và rất nhiều khoa học thuật, tổ chức thành 4 phân khoa đại học. Mỗi đơn vị đều tự chủ trong hoạt động của mình. 
Đại học Oxford đào tạo rất nhiều nhân vật đặc biệt, trong đó có 26 thủ tướng Anh, cùng nhiều nguyên thủ các nước khác. 27 cựu sinh viên của trường từng đạt giải Nobel.
Đại học danh giá của nước Anh này có hệ thống 102 thư viện. Trong đó, 30 thư viện thuộc hệ thống Bodleian - thư viện lớn nhất của Oxford, lớn thứ 2 ở Anh (chỉ sau Thư viện Anh Quốc). 
Lối vào và bên trong thư viện Bodleian. 
Đại học Oxford có những viện bảo tàng hoành tráng: Bảo tàng Ashmolean, Bảo tàng Lịch sử Thiên nhiên (ảnh), Bảo tàng Pitt Rivers. Đặc biệt, Bảo tàng Ashmolean được thành lập năm 1683, lâu đời nhất nước Anh. Đây cũng là viện bảo tàng đại học cổ xưa bậc nhất thế giới. 

Khuôn viên đại học nổi tiếng nước Anh.

http://stc.v3.news.zing.vn/css/img/expand.png) 50% 50% / 16px no-repeat rgba(0, 0, 0, 0.6);">Phóng to
http://news.zing.vn/znews-post547426.html" class=" fb_iframe_widget" fb-xfbml-state="rendered" fb-iframe-plugin-query="app_id=622829237762080&container_width=0&href=http%3A%2F%2Fnews.zing.vn%2Fshare%2Flink.aspx%3Furl%3Dhttp%3A%2F%2Fnews.zing.vn%2Fw660%2FUploaded%2Fjbvunte%2F2015_06_08%2FOxford9.jpg%26origin%3Dhttp%3A%2F%2Fnews.zing.vn%2Fznews-post547426.html&locale=vi_VN&sdk=joey" style="box-sizing: border-box; width: auto; margin: 5px 0px 15px;">
Trong suốt lịch sử gần 800 năm, Đại học Oxford không có nữ hiệu phó. Tháng 1/2016, giáo sư người Ailen Louise Richardson (56 tuổi) trở thành hiệu phó thứ 272, và là phụ nữ đầu tiên giữ chức vụ này của Oxford. Bà thay thế Hiệu phó Andrew Hamilton – người được thuyên chuyển tới Đại học New York. 

http://img.v3.news.zdn.vn/w210/Uploaded/neg_rtlzofn/2015_06_05/zing_harvard3.jpg); background-attachment: initial; background-color: transparent; background-size: cover !important; background-origin: initial; background-clip: initial; background-position: 50% 0%; background-repeat: no-repeat;">

Toàn cảnh trường đại học tốt nhất thế giới

Đại học Harvard của Mỹ đứng đầu trong danh sách 50 trường đại học tốt nhất thế giới năm 2014.

http://img.v3.news.zdn.vn/w210/Uploaded/fssym/2015_05_27/ret.jpg); background-attachment: initial; background-color: transparent; background-size: cover !important; background-origin: initial; background-clip: initial; background-position: 50% 0%; background-repeat: no-repeat;">

Trường học đẹp như khách sạn cao cấp ở Sài Gòn

Trường Quốc tế Mỹ (cơ sở Nhà Bè, TP HCM) có kiến trúc đẹp, cùng trang thiết bị vật chất hiện đại. Trường hiện áp dụng những phương pháp giảng dạy tiên tiến.

Tịnh Yên (Tổng hợp

Khái niệm đại học trên thế giới đang thay đổi

  

 

Đàm Quang Minh, Phạm Thị Ly, Phạm Hiệp


Trên quy mô toàn cầu, hệ thống giáo dục đại học (GDĐH) được biết đến như là đỉnh cao của hệ thống cung cấp tri thức, vai trò của hệ thống này là dẫn dắt các nghiên cứu và định hình nhiều xu thế mới trong xã hội. Các nhà bác học vĩ đại được giải thưởng Nobel hay Fields thường là các giáo sư tại các trường ĐH danh tiếng. Chính vì vậy, qua bao thế kỷ, các trường ĐH nghiên cứu danh tiếng này được coi là những “tháp ngà” để mọi người ngưỡng mộ. Nhưng hiện nay trong bối cảnh toàn cầu đang thay đổi mạnh mẽ, câu hỏi về việc hệ thống ĐH đi về đâu trong tương lai đang liên tục được đặt ra!

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tri thức, công nghệ thông tin và sự bùng nổ các phát kiến mới đang khiến cho xã hội thay đổi nhanh chóng. Hệ thống ĐH không phải là ngoại lệ: vai trò của hệ thống ĐH trên thế giới đang thay đổi mãnh liệt. Hàng loạt các tuyên bố từ chính các “tháp ngà” cho rằng chưa bao giờ hệ thống giáo dục ĐH toàn cầu lại chuyển mình nhanh như hiện nay. GS. Delbanco thuộc trường ĐH Columbia với cuốn sách “ĐH đã là gì và sẽ như thế nào?” đã nêu lên những thay đổi căn bản của giáo dục ĐH song hành với sự phát triển của công nghệ thông tin và nền kinh tế tri thức. Mới đây nhất tại Davos ngày 21/1/2015, hiệu trưởng Trường ĐH Harvard, Drew Fraust cũng nêu quan điểm cho rằng giáo dục ĐH đang thay đổi bởi ba lý do chính: sự phát triển của công nghệ, sự thay đổi khái niệm tri thức và sự định nghĩa lại các giá trị của giáo dục.

Nhìn lại lịch sử

Trong thực tế mô hình giáo dục ĐH không phải giữ nguyên từ nguyên thủy đến nay. Những trường ĐH đầu tiên ra đời là để phục vụ cho thần quyền và giới chức chính trị, tôn giáo. Các trường này được gọi là Mô hình trường ĐH Trung cổ và thường được công nhận bởi Giáo hoàng. Điển hình cho các trường đó là ĐH Bologna được thành lập năm 1088, ĐH Paris thành lập năm 1150 và ĐH Oxford năm 1167. Lúc đó trường ĐH chỉ dạy về ba mảng chính là ngữ văn, hùng biện và logic học. Cho đến tận thế kỷ 14, cũng chỉ có thêm một số môn như Y học, Triết học, Số học và Thiên văn học được đưa thêm vào trường ĐH.

Sang đến thế kỷ 15 kéo dài đến thế kỷ 17, sự bùng nổ của cuộc cách mạng “khoa học thực chứng” (nghiên cứu dựa trên thí nghiệm/quan sát và đề cao tính khái quát hoá của kết quả nghiên cứu) thời kỳ Phục Hưng đã làm thay đổi hoàn toàn về nhận thức xã hội mà điển hình nhất là đóng góp của Leonardo da Vinci và sau đó là Galileo, Newton, đã khiến các trường ĐH được mở rộng sang các ngành khoa học tự nhiên. Thời kỳ này các trường ĐH đóng góp một vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu khoa học tự nhiên và hàng loạt phát minh được đưa ra từ các phòng thí nghiệm.

Sang thế kỷ 18, cuộc cách mạng công nghiệp đã một lần nữa đẩy các trường ĐH sang một mô hình mới, đó là mô hình ĐH Humboldt. ĐH Humboldt chính là mô hình ĐH nghiên cứu ngày nay được thành lập đầu tiên vào năm 1810. Đã có tới 29 nhà bác học đạt giải Nobel giảng dạy và làm việc tại trường này. Mô hình Humboldt là mô hình đóng góp thành công lớn cho sự phát triển khoa học công nghệ và các trường danh tiếng nhất trên thế giới hiện nay cũng đang theo mô hình này.

Trường ĐH ngày nay đã và đang thay đổi như thế nào?

Như chúng ta thấy, các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật tất yếu dẫn tới sự thay đổi xã hội trong đó có các trường ĐH. Nếu các cuộc cách mạng như Phục Hưng, Công nghiệp đã gây dựng và mở rộng hơn các mô hình ĐH thì cuộc cách mạng công nghệ ngày nay cũng đang làm điều tương tự. Chúng ta có thể thấy rõ nét những biến chuyển của giáo dục ĐH hiện nay thể hiện qua các khía cạnh: cạnh tranh giáo dục toàn cầu, sự thay đổi trong môi trường học tập và nghiên cứu, trong vai trò của người dạy và người học.

Đầu tiên có thể nói đến việc giáo dục ngày nay đã trở nên một cuộc chơi cạnh tranh toàn cầu, các trường hàng đầu như Havard, Standford, Oxford, … tự hào vì họ tuyển chọn được những sinh viên giỏi nhất trên quy mô toàn thế giới. Nhiều quốc gia như Mỹ, Úc, Anh, Singapore, Malaysia … coi giáo dục là một ngành kinh tế xanh, sạch, nhiều tiềm năng. Hàng loạt các trường có uy tín như ĐH Nottingham, Liverpool, RMIT đã ra nước ngoài mở cơ sở đào tạo (xem bảng 1). Nhiều trường ĐH có tới cả chục campus khác nhau để tăng sự hiện diện, mở rộng tầm ảnh hưởng. Bên cạnh đó là sự hình thành của một loại hình mới cạnh tranh với hệ thống cũ như liên minh các trường hay một dạng được tổ chức như tập đoàn toàn cầu, ví dụ như Hệ thống ĐH của Laureate Education. Hệ thống này hiện đã có mặt tại 21 quốc gia với 37 cơ sở đào tạo. Tư duy không chỉ một cơ sở mà cần mở rộng trong phạm vi quốc gia và thậm chí là toàn cầu đang phát triển.

Môi trường học tập ĐH cũng đang thay đổi đáng kể. Trước đây, trung tâm của một trường ĐH là hệ thống thư viện và kho tư liệu đồ sộ. Hình ảnh thư viện sáng đèn từ sáng đến tối là hình ảnh điển hình cho việc học tập bậc ĐH. Nếu như trước đây phải mất một hành trình dài và tốn kém, các trường ĐH mới có được hệ thống tài liệu như vậy, thì ngày nay, một trường ĐH bất kỳ cũng có thể có cả triệu đầu tài liệu với thư viện điện tử ngay lập tức với mức đầu tư vừa phải. Sinh viên ngày nay không nhất thiết phải lên thư viện mà có thể ở bất kỳ đâu để tra cứu và học tập. Hơn thế, sự phát triển công nghệ thông tin và công nghệ giáo dục còn đưa đến những phương thức học tập khác như học tập tích hợp (blended learning) hay các khóa học mở đại chúng (MOOC). Điều thú vị là chính các trường hàng đầu như MIT, Harvard, Standford, … lại là những người tích cực nhất trong việc đầu tư vào MOOC với sự ra đời của Coursera và edX. Các khóa học này đã làm thay đổi quan niệm trước đây về môi trường học tập . Mỗi khóa MOOC có thể có tới 100.000 người cùng tham gia học tập cùng một lúc, số sinh viên của riêng một khóa học đã nhiều hơn rất nhiều trường ĐH hiện nay.

Môi trường nghiên cứu hiện nay cũng bắt đầu thay đổi. Trọng tâm của nghiên cứu đang dịch chuyển dần từ các trường ĐH, viện nghiên cứu sang các doanh nghiệp, tập đoàn lớn như Apple, Samsung, Google, các hãng dược phẩm và kể cả những công ty khởi nghiệp. Quỹ cho nghiên cứu của các đơn vị này tăng theo cấp số nhân trong khi đó đầu tư chính phủ cho nghiên cứu ngày càng thu hẹp. Điều này đã dẫn tới việc hoạt động nghiên cứu tại các trường ĐH đang trở thành bị chiếm lĩnh như là công việc làm thuê cho các doanh nghiệp có tiền đầu tư cho nghiên cứu – phát triển. Điều này làm thay đổi cả trọng tâm lẫn bản chất và phương thức của hoạt động nghiên cứu khoa học.

Điểm sau cùng là quan hệ giữa người dạy và người học cũng thay đổi một cách cơ bản. Kiến thức ngày nay không còn là độc quyền của người thầy mà sinh viên hoàn toàn có thể tự kiểm chứng tất cả những điều mình học gần như ngay lập tức. Vai trò người dạy chuyển từ truyền đạt kiến thức sang người hướng dẫn và tổ chức các hoạt động trải nghiệm để người học có thể xây dựng kỹ năng và kiến thức cho riêng mình. Sự phát triển nhanh chóng của tri thức mới cũng khiến cho việc học tập trở nên học tập suốt đời để luôn cập nhật được những kiến thức mới nhất. Sinh viên ngày nay được khuyến khích tự trải nghiệm bằng cách mở rộng hoạt động ra bên ngoài thay vì tập trung vào chỉ học tập trong trường như trước đây.

Xét một cách khách quan, quá trình biến đổi của hệ thống ĐH đã bắt đầu và sẽ phát triển theo những dạng thức khác hơn mang nhiều tính đại chúng, toàn cầu và công nghệ. Quá trình này sẽ giống như các bước phát triển trước đây, bên cạnh các mảng “truyền thống”, hệ thống ĐH sẽ được bổ sung những phương thức mới và cả những xu thế mới như công nghệ hay sáng tạo. Liệu quá trình tiến hóa này sẽ đi đến đâu và trường nào sẽ bị bỏ rơi lại và đào thải dần?

Tái định hình một quan niệm mới về trường ĐH

Những thay đổi trên đây đã diễn ra dưới áp lực đòi hỏi của nền kinh tế tri thức và trở thành hiện thực nhờ những tiến bộ của khoa học công nghệ hiện đại. Nền kinh tế tri thức trong thời đại toàn cầu hóa đòi hỏi những kỹ năng mới (kỹ năng sử dụng công cụ kỹ thuật số, kỹ năng làm việc nhóm, truyền thông giao tiếp, sáng tạo, tư duy khởi nghiệp,…) và những năng lực mới (năng lực lãnh đạo, tầm nhìn toàn cầu). Ngày nay người ta không chỉ cần trí thông minh logic và toán học, mà còn là trí thông minh ngôn ngữ, không gian, âm nhạc, trí thông minh liên nhân và cảm xúc.v.v. để có thể tồn tại và phát triển trong một môi trường sống và làm việc ngày càng đa diện và phức tạp. Ngày nay, học tập suốt đời trở thành nhu cầu tất yếu, điều quan trọng đối với mọi cá nhân (và đặc biệt là với các trường ĐH) không chỉ là khả năng tiếp thu cái mới mà còn là khả năng gỡ bỏ cái cũ. Như nhà tương lai học Alvin Toffler từng nói: “Những người được xem là mù chữ trong thế kỷ 21 không phải là những người không biết đọc biết viết, mà là những người không có khả năng từ bỏ cái đã học và học cái mới”.

Vì vậy, lối dạy và học của nhà trường truyền thống thiên về truyền thụ kiến thức và đào tạo kỹ năng chuyên môn không thể đáp ứng những đòi hỏi ấy. Trường ĐH của tương lai không nhằm vào truyền thụ kiến thức và đào tạo kỹ năng chuyên môn, mà nhằm vào những kỹ năng sống và năng lực công dân, nhằm vào khả năng học tập suốt đời. Nó tận dụng mọi cơ hội mà khoa học công nghệ mang lại để đào tạo trực tuyến. Nó biến đổi thành nhiều hình thái để phục vụ nhiều nhu cầu và đối tượng đa dạng.

Nếu như vài thập niên trước đây, và kể cả hiện nay,  mô hình trường ĐH nghiên cứu kiểu Humboltd được coi là hình mẫu lý tưởng của khái niệm “ĐH”: nơi đào tạo giới tinh hoa nhằm lãnh đạo xã hội, nơi sáng tạo tri thức mới và đào tạo các nhà khoa học, thì ngày nay, trường ĐH đã trở nên một thực thể đa dạng hơn rất nhiều trên mọi phương diện. Bên cạnh những tháp ngà truyền thống vẫn đang tồn tại, nhiều trường ĐH ngày nay đã thay đổi về mục tiêu và phương thức hoạt động. Nó không chỉ nhằm vào một thiểu số tinh hoa như trước, mà nhằm vào huấn luyện kỹ năng cho số đông. Nó không còn giới hạn trong một khuôn viên, một quốc gia, mà vươn ra toàn cầu. Nó không chỉ có lớp học, giảng đường, thư viện, mà có webinar, có học tập trực tuyến. Nó không còn được nhà nước bao cấp như trước đây, mà ngày càng tiến về phía thị trường, ngày càng thể hiện rõ nét tính chất dịch vụ: trong hai vế hàng hóa công và lợi ích tư, thì ý nghĩa lợi ích tư của GDĐH đang ngày càng chiếm ưu thế. Chính vì lẽ đó khái niệm GDĐH vì lợi nhuận hầu như không tồn tại trong cả ngàn năm lịch sử phát triển GDĐH ở phương Tây, gần đây bắt đầu được chấp nhận rộng rãi, đặc biệt là ở Đông Á. Và điều quan trọng nhất là: trường ĐH không còn là nguồn độc nhất hay chủ yếu tạo ra tri thức và truyền đạt tri thức như trước nữa.

Vì lẽ đó, quan niệm về trường ĐH cũng cần thay đổi. Thay đổi không có nghĩa là phủ nhận khái niệm ĐH như được hiểu trước đây, mà là mở rộng hơn, thừa nhận sự phát triển những hình thái đa dạng của ĐH. Một mặt chúng ta không bó hẹp quan niệm của mình trong những hình thức của trường ĐH truyền thống, mặt khác, cần bảo toàn những giá trị cốt lõi của trường ĐH trong những hình thái đa dạng của ĐH ngày nay. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với các nhà làm chính sách: một quan niệm chấp nhận sự đa dạng như vậy sẽ là tiền đề để tái cấu trúc hệ thống như một hệ sinh thái bao gồm nhiều loại trường khác nhau với những sứ mạng khác nhau và bổ sung cho nhau. Nó cũng rất quan trọng đối với các nhà lãnh đạo của từng trường ĐH: nhận thức về những biến đổi của bối cảnh sẽ thúc đẩy những chiến lược đáp ứng phù hợp của các trường và tăng cường cơ hội sinh tồn của họ.

Tài liệu tham khảo

Barber, M., Donnelly, K., Rizvi, S., & Summers, L. (2013). An avalanche is coming: Higher education and the revolution ahead.

Drew Gilpin Faust, “Ba lực lượng định hình trường ĐH của tương lai”. Bài phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại Davos, Thụy Sĩ ngày 21 tháng 1 năm 2015. Nguồn:https://agenda.weforum.org/2015/01/three-forces-shaping-the-university-of-the-future/

Jamil Salmi, “The Evolving Relationship between State and Quality Assurance”. Bài trình bày tại Viện Giáo dục Quốc tế Hoa Kỳ, Washington DC, 21.02.2015.

Guardian Higher Education Network. The University of 2020: Predicting the Future of Higher Education. Nguồn:  http://www.theguardian.com/higher-education-network/blog/2012/aug/24/higher-education-in-2020

Hussey, T. & Smith, P. (2010) The trouble with higher education: a critical examination of our universities.