thepornweb.com - This website is for sale! - thepornweb Resources and Information.
mobile porn asian porn bestxxxvideos.mobi shemalex.mobi sexz.mobi ixxx asian-sex.mobi xxxfakesex.com hdporno.xyz

Bí quyết dạy học của các giáo viên đoạt giải tại Mỹ

 TTO - Tôi muốn rời lớp học với cảm giác hài lòng và sự tự tin về học sinh” - giáo viên lớp bốn Erin Dowd của trường Green T. Lindon Elementary chia sẻ.

http://static.new.tuoitre.vn/assets/tto/c6f6b489v393/images/zoom_cursor.png), auto; display: block; background: transparent;">
Các giáo viên ở Mỹ luôn đóng vai trò người hướng dẫn cho học sinh - Ảnh: Live Science

 Ý nghĩa của nghề giáo? Đó là câu hỏi mà báoUSA Today đặt ra đối với các giáo viên có tên trong danh sách đề cử giải thưởng giáo dục uy tín Lafayette Education Foundation Teacher Awards năm 2015.

Các giáo viên được tôn vinh có màu da và trình độ khác nhau, chuyên môn và lĩnh vực khác biệt. Tuy nhiên rất nhiều người có quan điểm chung về giáo dục.

Đó là công việc dạy học không phải nhằm mục tiêu đảm bảo học sinh làm bài tập về nhà, chú ý nghe giảng bài trên lớp hay đánh giá, xếp loại các em.

Thay vào đó, các giáo viên muốn hiểu rõ mọi học sinh của mình với tư cách cá nhân và dùng những hiểu biết đó để phát triển các em trở thành những con người thành đạt, hạnh phúc, có nhiều đóng góp cho xã hội.

“Tôi muốn rời lớp học với cảm giác hài lòng và sự tự tin về học sinh” - giáo viên lớp bốn Erin Dowd của trường Green T. Lindon Elementary chia sẻ.

Giáo viên Debbie Arceneaux dạy piano ở trường Broussard Middle, nhưng cô khẳng định các buổi học của cô không chỉ đơn giản là dạy học sinh chơi đàn, mà cả kỹ năng sống và sự phát triển cá nhân.

“Tôi luôn nhấn mạnh với các học sinh về tầm quan trọng của kỷ luật, sự quyết tâm, sự trung thực, đúng giờ, tính sáng tạo, làm việc nhóm, tôn trọng bạn bè, làm những điều mình tin là đúng” - cô Arceneaux cho biết.

Giáo viên nghệ thuật Simone McCrocklin thuộc trường trung học Comeaux High tiết lộ cô học hỏi được rất nhiều từ học sinh của mình. Điều đó đến từ việc tạo điều kiện cho học sinh thể hiện cảm xúc và cá tính thông qua các bài học.

Cô McCrocklin kể cô thường tạo một môi trường học tập nhẹ nhàng, ít căng thẳng bằng việc yêu cầu học sinh sáng tạo các tác phẩm nghệ thuật gần gũi với cuộc sống của các em.

“Thông qua nghệ thuật, các em thể hiện được cảm xúc cá nhân và tìm thấy sự yên bình” - cô McCrocklin đánh giá.

Giáo viên tiếng Anh Tanya Chiasson thuộc trường St. Pius Catholic nhấn mạnh công việc của người thầy là hướng dẫn, lắng nghe và tư vấn cho học sinh. “Đối với tôi, nhiệm vụ quan trọng nhất của giáo viên là giúp phát triển học sinh thành những người có tư duy độc lập và sáng tạo. Giáo viên không thể là nhân vật trung tâm. Đó phải là học sinh”.

Giáo viên kịch nghệ Amanda Newbery khẳng định cô không bao giờ mặc váy hoặc trang phục cầu kỳ đến lớp học bởi cô cần quần áo thoải mái “để có thể lăn xả ra sàn lớp học với học sinh”.

“Tôi tin rằng cách tốt nhất gúp học sinh học hành hiệu quả là luôn đứng cạnh hỗ trợ các em, sử dụng bài giảng kích thích sự sáng tạo và trí tưởng tượng. Chỉ điều đó mới có thể tạo sự hứng khởi trong học tập” - cô Newbery quả quyết.

Cô giáo Sandra Broussard thuộc trường Comeaux High đánh giá với các học sinh tỏ ra ngỗ ngược, việc giáo viên tỏ ra nóng giận hay trừng phạt mạnh tay các em sẽ chỉ gây ra tác dụng ngược.

“Nếu dùng lửa để đối chọi với lửa, tất cả sẽ bị tiêu cháy” - cô cảnh báo. Kinh nghiệm của cô Broussard là trước hết người giáo viên phải tôn trọng học sinh, để cho các em cảm thấy tự tin với bản thân.

Cô Shalita Manuel-Jackson của trường Lafayette Renaissance Charter Academy chia sẻ bí quyết thành công của cô là nỗ lực tối đa để giúp học sinh hiểu rằng các em có thể đạt được thành công nếu phát triển được quan điểm, nhận định riêng về cuộc sống. “Bởi tất cả những gì các em học và làm ở trường đều mở con đường tới tương lai của chúng”.

 
NGUYỆT PHƯƠNG (Theo USA Today)
 

Vì sao 40% sinh viên Việt thất nghiệp?

 

Sinh viên thụ động và lười khi không tự trang bị kỹ năng mềm, định hướng nghề nghiệp. Đây là lý do khiến 40% sinh viên thất nghiệp và không thể đáp ứng nhu cầu của nhà tuyển dụng.

‘Khát’ nhân lực trình độ cao

Bất chấp những dấu hiệu giảm nhiệt của nền kinh tế, đầu tư nước ngoài (FDI) vào Việt Nam trong các năm gần đây vẫn tiếp tục tăng trong đó có nhiều công ty nước ngoài, công ty đa quốc gia.

Để vào được những công ty này, đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao, có kinh nghiệm, năng lực và tầm nhìn toàn cầu. Tuy nhiên, khả năng đáp ứng thực tế của nguồn nhân lực Việt Nam, năng suất lao động còn thấp.

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), năng suất lao động của người Việt Nam hiện đang ở mức thấp so với các nước ASEAN và mức bét bảng so với các nước Châu Á - Thái Bình Dương.

Tương lai, tất cả các nền giáo dục sẽ mang tính quốc tế

Bộ GD-ĐT vừa đưa ra con số 40% sinh viên tốt nghiệp ra trường sau 3 tháng không tìm được việc làm. Đây là điều mà nhiều doanh nghiệp cho rằng phản ánh đúng năng lực sinh viên hiện nay. Sinh viên thụ động và lười khi không tự trang bị kỹ năng mềm, định hướng nghề nghiệp.

Các chuyên gia cho rằng, nền kinh tế tri thức của Việt Nam vẫn chỉ trong giai đoạn phát triển ban đầu, chưa tạo ra một lực lượng nhân lực chất lượng cao có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng khắt khe của các công ty, tập đoàn đa quốc gia có quy mô lớn. Do đó, cần đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao có thể đáp ứng các nhu cầu trên trong khi đang có sự vênh nhau rất lớn giữa kiến thức đào tạo ở trường lớp với yêu cầu thực tế của công việc.

Một trong những lời giải hợp lý cho bài toán này là xu hướng đào tạo sinh viên trong môi trường quốc tế, đa văn hoá, đa chủng tộc. Môi trường giáo dục đó cần phải trang bị cho người học những kỹ năng mềm cần thiết, những kinh nghiệm quốc tế và tầm nhìn toàn cầu để gặt hái thành công sau này.

Xuất phát từ thực tế đó, rất nhiều người có nhu cầu cho con em du học, đặc biệt là những nước có nền giáo dục phát triển như Anh, Úc…

 

Cơ hội tương lai với giáo dục quốc tế

Trong nghiên cứu mới đây của trường trung học Anh Bellerbys College về những xu hướng giáo dục trong khu vực châu Á, cũng đã nhận định các tổ chức doanh nghiệp đã và đang phát triển mạnh mẽ để nâng cao sức cạnh tranh trong thế giới số, còn người tiêu dùng cũng tham gia nhiều hơn vào thị trường toàn cầu. Khi công việc mang tính toàn cầu hơn, các nhà giáo dục tương lai cần phải vượt qua các ranh giới truyền thống của lớp học giản đơn với bổ sung thêm các kỹ năng mềm mà môi trường công sở hiện đại cần tới.

Một trong những chuyên gia giáo dục của Việt Nam, khi tham gia nghiên cứu này, cho biết: “Cộng tác và hợp tác quốc tế là chìa khóa cuộc sống kinh doanh ngày nay, và môi trường giáo dục nào mà trang bị khả năng này sẽ mang lại cho sinh viên nền tảng tuyệt vời trong môi trường làm việc doanh nghiệp hiện nay”.

Hệ thống doanh nghiệp hiện nay được xây dựng để phù hợp và khích lệ những ai có thể làm việc theo nhóm trong các môi trường và quốc gia đa dạng, thể hiện xuyên suốt từ sự đa dạng quốc tế, văn hoá và cả cấu trúc doanh nghiệp với đòi hỏi cao về khả năng nhạy bén với công việc. Để đáp ứng nhu cầu này, sinh viên cần phải nắm bắt những lợi ích của giáo dục toàn cầu từ khi còn trẻ, đảm bảo họ có thể tối ưu hóa các kỹ năng mềm mà công ty và trường đại học đánh giá cao.

Bởi thế, giáo dục quốc tế giờ đây đang thay đổi để phản ánh một môi trường việc làm mới, đáp ứng nhu cầu của xã hội ngày nay. Cùng với đó, vai trò giáo viên cũng đang thay đổi từ người dạy sang người hướng dẫn, là người giúp sinh viên hòa nhập với cách học tiên tiến, đồng thời hướng dẫn và trang bị cho họ những kỹ năng sống mềm mại hơn mà môi trường kinh doanh hiện đại đòi hỏi.

Tại Anh, trường Bellerbys, nơi khởi đầu giấc mơ du học vào các ngôi trường danh giá thế giới giúp tạo nên thế hệ sinh viên có kiến thức và kỹ năng toàn diện, đáp ứng hoàn hảo nhu cầu của các nhà tuyển dụng nhân sự cao cấp cho các công ty đa quốc gia, công ty có môi trường làm việc quốc tế.

Simon Mower, Hiệu trưởng trường trung học Bellerbys College Brighton, chia sẻ: “Tại Bellerybys, chúng tôi có hơn nửa thế kỷ kinh nghiệm về đào tạo sinh viên quốc tế, và trọng trách của chúng tôi không chỉ mang đến cho sinh viên chất lượng đào tạo cao hơn mà còn giúp chuẩn bị cho họ cuộc sống sau này tốt hơn. Chúng tôi hiện có sinh viên tới từ hơn 70 quốc gia đang học tập tại trường. Và tại đây, các sinh viên đang học cách trở thành công dân toàn cầu trong một môi trường không chỉ tôn trọng văn hóa riêng của họ mà còn khuyến khích họ giao thoa, kết nối và học hỏi từ các nền văn hóa khác.”

Với xu thế giáo dục mang tính quốc tế như vậy, kết quả sẽ tạo ra một thế hệ sinh viên quốc tế hóa mới có tầm nhìn toàn cầu nhưng vẫn mang bản sắc riêng, giúp họ am hiểu hơn, cá tính hơn. Sinh viên tốt nghiệp đi làm thực tế sẽ có năng suất lao động cao, sáng tạo và quan trọng nhất là dễ dàng được tuyển dụng vào những vị trí tốt và mức lương cao.

Doãn Phong

Câu trả lời cho “Hơn 24 nghìn tiến sĩ Việt Nam đang làm gì?”

 

Thống kê của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ, cho thấy hiện nay ở Việt Nam đang có hơn 24,5 nghìn tiến sĩ, trong đó có khoảng 12,3 nghìn tiến sĩ đang nghiên cứu khoa học.

Theo Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia, kết quả tổng hợp điều tra Nghiên cứu và Phát triển 2014 và Điều tra Doanh nghiệp 2014 cho thấy, năm 2013 cả nước có 164.744 người tham gia hoạt động nghiên cứu phát triển. Trong đó số làm công tác nghiên cứu chuyên nghiệp tại các viện, trung tâm nghiên cứu là 37.481 người.

Nếu phân theo chức năng làm việc thì phân bố nhân lực như sau: 128.997 cán bộ có trình độ ĐH, CĐ trở lên; 12.799 cán bộ kỹ thuật; 15.149 cán bộ hỗ trợ; 7.799 người làm chức năng khác.

Tuy nhiên, đây là số lượng tính theo đầu người mà không phải quy đổi toàn thời gian (nếu quy đổi sẽ giảm đáng kể).

Theo cách đánh giá của Tổ chức hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), cán bộ nghiên cứu là những người có trình độ ĐH/ CĐ, thạc sĩ, tiến sĩ và dành tối thiểu 10% thời gian làm việc cho nghiên cứu phát triển. Với cách tính này, năm 2013, Việt Nam có 128.997 cán bộ làm nghiên cứu. Trong đó có  12.261 tiến sĩ (chiếm 9%), 45.222 thạc sĩ (chiếm 35%), 66.685 người có trình độ ĐH (chiếm 52%), gần 4.829 người có trình độ CĐ (chiếm 4%).

Khu vực kinh tế nhà nước vẫn có số lượng cán bộ nghiên cứu khoa học đông đảo nhất (chiếm 87%), khu vực ngoài nhà nước chiếm 12%.

Nguồn: Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia

Gần 90% số lượng cán bộ nghiên cứu làm việc trong các đơn vị nhà nước; đồng thời hầu hết (93%) cán bộ nghiên cứu có trình độ cao (tiến sĩ) tập trung khu vực nhà nước. Tỷ lệ cán bộ nghiên cứu có trình độ thạc sĩ làm việc trong khu vực Nhà nước lên đến trên 95% trong tổng số.

Thống kê theo khu vực hoạt động (theo loại hình tổ chức) cho thấy các trường ĐH, CĐ là khu vực có số lượng cán bộ nghiên cứu đông nhất (63.435 người, chiếm gần 49%). Tiếp sau là khu vực các tổ chức nghiên cứu và phát triển của Nhà nước (29.280 người, chiếm 23%). Trong khi đó, số cán bộ nghiên cứu của khu vực doanh nghiệp chỉ chiếm 14%.

 
 

Nguồn: Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia

Số liệu thống kê cho thấy, ở khu vực đại học, tỷ lệ cán bộ có trình độ tiến sĩ là cao nhất; tiếp đó là khu vực viện, trung tâm nghiên cứu và phát triển, trong khi khu vực doanh nghiệp có tỷ lệ tiến sĩ rất thấp.

Nếu chỉ xem xét số tiến sĩ tham gia nghiên cứu thì khu vực ĐH có 7.959 người, chiếm 65%. Khu vực các viện, trung tâm nghiên cứu và phát triển có 3.367 người, chỉ chiếm 27% số tiến sĩ.

Nguồn: Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia

Các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ có số lượng cán bộ nghiên cứu lớn nhất, chiếm 35%. Tiếp theo là lĩnh vực khoa học xã hội với 26%, khoa học nông nghiệp 12%, khoa học tự nhiên 11%.

Ngân Anh

Dân trí Việt Nam cao hay thấp?

 

Chúng ta đang nói nhiều đến “dân trí”, và “dân trí thấp” được cho là nguyên nhân của nhiều vấn đề trong đời sống hiện nay của đất nước.

"Dân trí" là gì?

Nếu định nghĩa thuần túy về ngữ nghĩa thì "trí" vốn là một từ gốc Hán, có nghĩa chỉ khả năng nhận thức, suy đoán, ghi nhớ... thuộc phần trí tuệ gắn liền với mỗi người. Theo đó, "dân trí" là khái niệm chỉ chung về trình độ nhận thức hay mặt bằng văn hóa chung của một cộng đồng hay nhóm dân cư ở một phạm vi nhất định.

Theo quan niệm truyền thống, “dân trí” là trình độ văn hóa chung của xã hội, hoặc đơn giản hơn là trình độ học vấn trung bình của người dân…

Xét về mặt “chất” thì “dân trí” là sự hiểu biết và là ý thức về quyền và trách nhiệm của người dân và từ đó là lợi ích có thể mong đợi được khi thực thi quyền và trách nhiệm đó.

Và giá trị của dân trí còn nằm ở mức độ quan tâm của người dân trước các vấn đề xã hội, mức độ dấn thân (muốn làm, dám làm) và khả năng hành xử trách nhiệm dân chủ của mình một cách có hiệu quả.

Cao hay thấp?

Có thể đưa ra những thống kê sau:

Tháng 9/2013, Bộ GD-ĐT đã ban hành Chương trình hành động thực hiện Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020. Theo đó, đến năm 2020, tỉ lệ đi học đúng độ tuổi ở THCS là 95% và 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ học vấn THPT hoặc tương đương. Tỉ lệ sinh viên/ 10.000 dân vào khoảng 256.

Trước đó, vào năm 2003, cả nước mới có khoảng 768.000 sinh viên, đạt tỉ lệ 118 sinh viên/10.000 dân, chiếm tỉ lệ 4% trong độ tuổi thanh niên, tăng 25% so với năm 1998. Như vậy, từ năm 2003 đến 2013 và nhìn đến 2020, đã có một sự phát triển vượt bậc về tỉ lệ sinh viên trên số dân.

Xét về tiêu chí giáo dục, Việt Nam đã phổ cập bậc tiểu học và đang tiến hành phổ cập trung học cơ sở. Tính đến năm 2014, tỷ lệ người biết chữ độ tuổi từ 15 - 60 là 98,25%, trong đó: Số người biết chữ trong độ tuổi 15 - 35 chiếm tỷ lệ 99,12%; số người biết chữ trong độ tuổi từ 36 - 60 chiếm tỷ lệ 97,34%.

Từ năm 1976 cho đến hết năm 2014, tổng số GS, PGS đã được công nhận ở nước ta là 11.097, gồm có 1.628 GS và 9.469 PGS (trong số đó nhiều người đã mất và về hưu).

 
 

Việt Nam có hơn 100 nghìn thạc sĩ, hơn 24 nghìn tiến sĩ.

Theo số liệu thống kê năm học 2013 - 2014, Việt Nam có 214 trường cao đẳng, 214 trường đại học, với gần 600 nghìn sinh viên cao đẳng và hơn 1,46 triệu sinh viên đại học. Số giảng viên ĐH là gần 92 nghìn người,, trong đó có 4.155 GS, PGS. Hằng năm có hơn 400.000 người tốt nghiệp đại học, cao đẳng trong nước.

Về chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI): Năm 2014 Việt Nam đứng thứ 121/187 quốc gia.

Đây là chỉ số so sánh, định lượng về mức thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một số nhân tố khác của các quốc gia trên thế giới. HDI của Việt Nam đã tăng 41% trong vòng hai thập kỷ qua. Năm 2012, Việt Nam đứng thứ 127/187 quốc gia.

HDI được đánh giá qua 3 tiêu chí: Sức khỏe (đo bằng tuổi thọ trung bình); tri thức (đo bằng tỉ lệ số người lớn biết chữ và tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục) và thu nhập (mức sống đo bằng GDP bình quân đầu người). Từ năm 2008, HDI được tính lại theo phương pháp mới (thay các chỉ số về tri thức bằng số năm đi học bình quân và kỳ vọng số năm đi học; thay đổi về chỉ số thu nhập GDP bằng GNI (tổng thu nhập quốc gia).

Trong đó, chỉ số tri thức (giáo dục), được biểu hiện qua 2 chỉ số chi tiết, đó là số năm đi học kỳ vọng và số năm đi học trung bình. Số năm đi học kỳ vọng của Việt Nam đã tăng từ 7,8 năm vào năm 1990 lên 10,4 năm vào năm 2011 (vẫn thấp hơn mức 11,7 năm bình quân ở khu vực Đông Á Thái Bình Dương).

Còn số năm đi học trung bình của Việt Nam đã tăng từ 4 năm (năm 1990) lên 5,5 năm năm 2011 (vẫn thấp hơn mức 7,2 năm của Đông Á Thái Bình Dương)...

Những dữ liệu trên đây cho thấy, xét về lượng, dân trí Việt Nam khá tốt.

Theo nhà sử học Dương Trung Quốc, “”Dân trí” bao gồm trình độ học vấn nhưng yếu tố quan trọng nhất lại là ý thức công dân. Dân trí không chỉ giới hạn trong đội ngũ trí thức mà bao gồm tất cả các giới trong xã hội như công nhân, thợ thuyền, nông dân. Chúng ta chuyển từ xã hội thần dân - là những người tuân phục - đến xã hội công dân - là những người biết, có ý thức và trách nhiệm của mình trước đất nước”.

Vậy thì, trọng tâm của vấn đề dân trí hiện nay chính là ý thức về quyền và trách nhiệm của người dân. Nâng cao nhận thức về  tự do dân chủ, hiểu biết về quyền công dân, quyền con người, nâng cao mức độ quan tâm của người dân trước các vấn đề xã hội, động viên, thu hút được sự dấn thân đông đảo của trí thức, doanh nhân, là những yếu tố cốt lõi để nâng cao dân trí.

Ngân Anh (tổng hợp)

Trở thành “giảng viên” từ năm 2

TT - Nhiều trường ĐH tuyển chọn sinh viên (SV) khá, giỏi làm trợ lý giảng dạy cho giảng viên. Các “giảng viên SV" này tham gia đứng lớp giảng dạy, phụ chấm bài và được nhà trường trả lương.

http://static.new.tuoitre.vn/assets/tto/c6f6b489v348/images/zoom_cursor.png), auto; display: block; background: transparent;">
Trần Thị Phương Quỳnh, SV trợ giảng Trường ĐH Tôn Đức Thắng, hướng dẫn SV làm đồ án - Ảnh: T.Huỳnh

Đầu tháng 3-2015 Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM đã ban hành quy định về trợ lý giảng dạy. Trợ lý giảng dạy là người giúp việc cho giảng viên trong việc chuẩn bị bài giảng, phụ đạo, hướng dẫn bài tập, thảo luận, thí nghiệm, thực hành và chấm bài.

Bên cạnh giảng viên tập sự, học viên cao học, nghiên cứu sinh và các chuyên gia thuộc các đơn vị ngoài trường, nhà trường còn tuyển chọn SV làm trợ lý giảng dạy.

Trở thành “giảng viên” từ năm 2

Muốn lọt vào mắt xanh của giảng viên trong việc tuyển chọn trợ lý giảng dạy, SV phải nổi trội về thành tích học tập, năng động. Thông thường giảng viên sẽ chọn những SV cao điểm nhất lớp, nhất khóa trong môn để làm trợ giảng cho mình.

Theo quy định của nhà trường, SV năm 2, 3, 4 có điểm trung bình tích lũy của các năm học tính đến thời điểm làm trợ lý giảng dạy đạt từ 7.0 trở lên, điểm trung bình tích lũy của học phần được mời làm trợ giảng đạt từ 7.5 trở lên. SV được nhà trường trả tiền công 50.000 đồng/tiết quy đổi cho quá trình làm trợ lý giảng dạy.

Trong giờ học phụ đạo môn Visual basic (lập trình căn bản) của các SV năm nhất khoa chất lượng cao Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM, “giảng viên” Cao Hoài Phương (SV năm cuối ngành công nghệ thông tin) tự tin trình bày bài giảng bằng PowerPoint.

Bên dưới gần 20 SV chăm chú lắng nghe, ghi chép cẩn thận. Sau phần củng cố kiến thức lý thuyết, Phương yêu cầu SV làm bài tập được chuẩn bị sẵn. Không khí lớp học sôi nổi hẳn, mọi người lần lượt đưa ra cách giải của mình...

Lúc nào cả lớp bí, Phương là người đứng ra giải đáp. “Các lớp phụ đạo được khoa mở ra giao cho trợ lý giảng viên phụ trách để hỗ trợ các SV học yếu, củng cố kiến thức cho họ. Mình làm việc này được hai học kỳ rồi. Ngoài lớp phụ đạo mình còn phụ giảng viên trong những tiết học chính. Thầy đứng lớp giảng, nếu SV có thắc mắc mình sẽ giải đáp thay thầy” - Phương cho biết.

Hầu hết SV khoa công nghệ thông tin của trường học môn cơ sở lập trình 1 đều biết đến Lê Minh Đức (SV năm 2) trong vai trò trợ lý giảng dạy.

Đến nay Đức đã có “thâm niên” ba học kỳ làm trợ lý giảng dạy. Ở học kỳ đầu tiên, môn cơ sở lập trình 1 là nỗi ám ảnh với không ít SV, tỉ lệ SV rớt khá cao nhưng Đức đã đạt điểm 10 môn học này.

Nhờ đó, Đức được ThS Trần Công Tú gọi làm trợ lý giảng dạy... Tuy nhiên, theo quy định của nhà trường, SV năm 2 trở đi mới được làm trợ lý giảng dạy nên ban đầu Đức không được trực tiếp làm công việc này.

Không chịu ngồi không, Đức nhận viết phần mềm chấm điểm tự động, bảo trì trang web bài tập của môn học này và giúp việc cho thầy. Hiện Đức được giao đứng lớp hai buổi/tuần để phụ giúp giảng viên hướng dẫn SV thực hành môn cơ sở lập trình.

Trong những buổi học này nếu SV có thắc mắc vấn đề gì Đức sẽ là người giải đáp. “Công việc chính của mình là hướng dẫn các bạn thực hành và sửa bài tập cho các bạn” - Đức cho biết.

Mỗi chiều thứ bảy, ai đến phòng cơ sở thiết kế máy khoa cơ khí chế tạo máy Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM đều thấy Nguyễn Văn Thành (SV năm 4) có mặt để nhận bài tập của SV. Có hôm đã gần 17g Thành vẫn say sưa giải đáp thắc mắc và hướng dẫn SV hoàn chỉnh bài tập.

“Với môn chi tiết máy, SV phải làm các bài tập lớn hoặc làm đồ án chi tiết máy. Mình được thầy giao soạn bài sau đó hướng dẫn các bạn làm bài tập lớn, đồ án. Ngoài ra, mình còn phụ thầy chấm hàng trăm bài tập lớn mỗi tuần”- Thành chia sẻ.

Trong khi đó, Lê Quốc Trạng (SV năm 2 khoa chất lượng cao) đang làm trợ lý giảng dạy môn hình họa - vẽ kỹ thuật cũng cho biết: “Mình không trực tiếp đứng lớp, chủ yếu phụ thầy chấm bài. Môn học này sau khi học trên lớp SV về nhà vẽ bài tập, hầu như tuần nào cũng có bài vẽ. Nếu bạn nào chưa hiểu bài, mình sẽ tập trung các bạn để giảng lại và giải đáp thắc mắc...”.

Hỗ trợ SV học yếu

Trong khi đó, các SV tham gia công tác trợ giảng của Trường ĐH Tôn Đức Thắng chủ yếu làm công việc sửa bài tập, hướng dẫn thực hành và hỗ trợ các SV có học lực yếu...

Với điểm trung bình học kỳ là 9.14, Trần Thị Phương Quỳnh (SV năm 4 ngành khoa học môi trường) vẫn phải trải qua nhiều vòng tuyển chọn mới trở thành một trợ giảng. Khi bắt đầu công việc Quỳnh được lãnh đạo khoa phân công hỗ trợ những SV học yếu.

“Đối với các môn đại cương, bạn nào có nhu cầu cải thiện kiến thức thì liên hệ với mình, để mình mời những SV giỏi giúp hệ thống kiến thức cho các bạn. Riêng các môn chuyên ngành mình sẽ trực tiếp hướng dẫn. Những bài tập làm đồ án, nếu bạn nào không nắm bắt kịp nội dung giảng viên dạy mình sẽ hướng dẫn lại, giúp sửa bài cho tốt hơn” - Quỳnh chia sẻ.

Nguyễn Thành Trung (SV năm cuối ngành bảo hộ lao động) cho hay mỗi tháng khoa sẽ tổ chức họp mặt giữa lãnh đạo khoa với SV yếu kém để lắng nghe tâm tư nguyện vọng và nắm bắt khó khăn trong học tập của các SV này.

Tại đây, lãnh đạo khoa cũng giới thiệu các trợ giảng phụ trách từng môn học cụ thể đến SV. Sau đó SV sẽ đăng ký môn học cần hỗ trợ, các trợ giảng sẽ chủ động lên kế hoạch để gặp các bạn hướng dẫn.

Bên cạnh đó, với SV bình thường khác nếu có nhu cầu cần hướng dẫn hay thắc mắc gì trong học tập cũng sẽ được các “giảng viên SV" sẵn sàng hỗ trợ.

Trong số SV làm trợ giảng, Ninh Xuân Huy (SV năm cuối khoa môi trường và bảo hộ lao động) được nhiều SV gọi là “cứu tinh Toeic”.

Ngoài những công việc như các trợ giảng khác, với vốn liếng tiếng Anh khấm khá (Toeic 870, Ielts 7.0) Huy nhận thêm nhiệm vụ phụ trách lớp phụ đạo Toeic cho SV trong khoa...

Huy chia sẻ: “Thực tế nhiều SV không ra trường được do không đạt chuẩn ngoại ngữ theo quy định của nhà trường (phải đạt Toeic 500). Mình mở lớp phụ đạo chủ yếu ôn lại kiến thức căn bản, hướng dẫn cách tự ôn tập, luyện nghe, chia sẻ kinh nghiệm làm bài và tổ chức thi thử. Từ kết quả làm bài, mình biết được điểm yếu của từng bạn để tìm cách giúp đỡ họ...”.

Lớp học được Huy tổ chức sáng chủ nhật hằng tuần ở trường suốt bốn tháng qua luôn thu hút hàng chục SV.

Như tuyển dụng giảng viên

Tháng 10-2013 Trường ĐH Tôn Đức Thắng đã ban hành quy định về tuyển chọn và cấp học bổng cho SV thực tập nghề nghiệp tại trường.

Trong đó nhà trường đưa ra những tiêu chí tuyển chọn rất khắt khe, đòi hỏi SV phải đáp ứng nếu muốn trở thành trợ giảng cho giảng viên.

“Ngoài việc có kết quả học tập của học kỳ gần nhất đạt loại khá (từ 7.0) trở lên và điểm rèn luyện theo chương trình “3 nội dung đạo đức” của trường từ 70 điểm trở lên, SV phải được giảng viên chủ nhiệm tin cậy giới thiệu, trưởng khoa và Đoàn trường thẩm định, thống nhất đề xuất với nhà trường... SV nộp hồ sơ dự tuyển qua hội đồng cấp khoa xét duyệt. Sau đó nhà trường thành lập hội đồng tuyển trợ giảng giống như hội đồng tuyển dụng viên chức. SV phải trải qua cuộc phỏng vấn, nếu đạt sẽ được trường ký hợp đồng và được trả lương” - ThS Trần Thị Nguyệt Sương, trưởng phòng khảo thí và kiểm định chất lượng nhà trường, cho biết.

“Chúng ta cùng tiến”

Đến nay hầu hết SV năm 1, 2 Trường ĐH Bách khoa (ĐHQG TP.HCM) đều biết đến chương trình “Chúng ta cùng tiến” do Trung tâm Hỗ trợ SV và việc làm nhà trường tổ chức.

Tháng 5-2013, trước tình hình có hàng trăm SV của trường bị cảnh cáo học vụ (không đạt yêu cầu số tín chỉ tích lũy trong một học kỳ), Trung tâm Hỗ trợ SV và việc làm đã tổ chức các buổi ôn tập cho SV có nhu cầu trước mỗi kỳ kiểm tra.

Các lớp này do SV giỏi từ các lớp kỹ sư tài năng được trung tâm tuyển chọn phụ trách, trực tiếp soạn bài, hệ thống kiến thức, hướng dẫn giải bài tập...

Các môn học đang được tổ chức là những môn khối kiến thức đại cương mà hầu hết SV phải học: đại số, giải tích, vật lý, hóa đại cương, cơ lý thuyết, vẽ kỹ thuật... “Ban đầu các lớp học này mở ra với mục tiêu "kéo" các SV học yếu lên nên chỉ có vài chục SV tham dự.

Nhưng hiện nay những buổi học đại trà thường thu hút 100-200 SV tham gia, không chỉ SV học yếu mà có cả SV khá giỏi” - ThS Trần Tấn Phúc, giám đốc Trung tâm Hỗ trợ SV và việc làm, cho biết.

Ngoài giờ dạy hằng tuần, các bạn còn hỗ trợ trực tuyến qua trang mạng xã hội của nhóm. Trang Facebook “Chúng ta cùng tiến” sau hai năm hoạt động hiện có 7.000 thành viên, liên tục cập nhật bài tập, đề thi vào kho tài liệu online cũng như thông báo các buổi ôn tập.

Nếu SV có bất cứ vấn đề bài vở nào không hiểu, có thể chụp lại bài tập gửi lên mạng sẽ được hỗ trợ kịp thời.

 
TRẦN HUỲNH (báo Tuổi trẻ)