osoalex.com hdasianporn.club shemalex.mobi sexz.mobi ixxxtube.club hdxnxx18.com xxxfakesex.net jerkhd.com xxxteen.net

Bằng cấp hay thực học, thực làm ?

Kiến thức sinh viên học trong trường là những điều họ không mấy khi dùng được trong thực tế nghề nghiệp, còn những gì thực sự cần thiết mà thế giới việc làm đòi hỏi cho công việc tương lai thì họ lại không được học

Một cuộc khảo sát do Trung tâm Nghiên cứu và Phân tích chính sách thuộc Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội) thực hiện với quy mô gần 3.000 cựu sinh viên (SV) thuộc 5 khóa khác nhau (ra trường từ năm 2006- 2010) của 3 ĐH: ĐHQG Hà Nội, ĐHQG TP HCM và ĐH Huế, đã cho thấy những con số đáng báo động.

Những con số biết nói

Có đến 26,2% cử nhân cho biết chưa tìm được việc làm, dù khái niệm việc làm ở đây được hiểu rất rộng là bất cứ công việc gì tạo ra thu nhập, không nhất thiết phải đúng với trình độ, chuyên ngành đào tạo. Trong số này, 46,5% cho biết đã đi xin việc nhưng không thành công; 42% lựa chọn một giải pháp an toàn là… tiếp tục học lên hoặc học thêm một chuyên ngành khác.

Sinh viên Trường ĐH Bách khoa (ĐHQG TP HCM) trong lễ tốt nghiệp Ảnh: GIA thùy

Thậm chí, có 27% cử nhân được hỏi cho biết họ rất khó kiếm việc làm do ngành học của mình không phù hợp với thị trường. Số người rơi vào cảnh nhà tuyển dụng không hiểu về ngành học cũng chiếm tới 18%. Các khảo sát trên đây đa số được thực hiện tại các trường “đầu tàu” của Việt Nam, còn ở những trường ĐH khác có lẽ kết quả còn báo động hơn.

Những con số trên đây đã cho thấy ít nhất là hai vấn đề nghiêm trọng. Thứ nhất, chất lượng giáo dục hiểu theo ý nghĩa hẹp nhất là năng lực, kỹ năng thụ đắc được sau quá trình 4 năm học ở bậc ĐH, đã thấp đến nỗi hơn 1/4 SV sau khi ra trường từ 1-5 năm vẫn chưa tìm được việc làm, kể cả những việc trái ngành nghề hay những việc không cần được đào tạo ở bậc ĐH.

Thứ hai, giữa nhà trường và thế giới việc làm bên ngoài đang có một khoảng cách quá lớn. Trong lúc các doanh nghiệp (DN) không ngớt than phiền thiếu người làm được việc và khẳng định nguồn nhân lực có chất lượng cao đang là chỗ “thắt cổ chai” cản trở những kế hoạch phát triển của họ thì cử nhân mà các trường ĐH tạo ra vẫn không lấp được chỗ trống ấy vì họ được học trong trường những điều mà họ không mấy khi dùng được trong thực tế nghề nghiệp.

Đó là một sự lãng phí vô cùng to lớn. Bốn năm học ĐH của một SV đối với nhiều gia đình nông dân là một hy sinh lớn lao. Học phí ĐH ở Việt Nam dù thấp cũng vẫn là gánh nặng với bao nhiêu gia đình. Lãnh đạo các trường ĐH cần cảm thấy mình đã có lỗi với những gia đình ấy khi không đem lại cho SV một nền giáo dục đủ để họ có thể thích ứng, tồn tại và phát triển được trong thế giới việc làm.

Một lãnh đạo DN liên doanh đã nói với nhóm nghiên cứu chúng tôi rằng khi nhận SV mới tốt nghiệp vào làm việc, ông mất 2 năm để “tẩy rửa” những gì các em đã được học và thêm 2 năm nữa để dạy những kỹ năng cần thiết thì mới đáp ứng được công việc của DN.

Xem lại sứ mệnh đào tạo ĐH

Lối ra cho tình trạng đó, là các trường phải tư duy lại về sứ mạng của mình. Sứ mạng của một trường ĐH là một tuyên ngôn cho thấy lý do tồn tại của trường ĐH. Nó sẽ dẫn dắt và quyết định mọi hành động tiếp theo của nhà trường, cũng như cách mà nhà trường lựa chọn chiến lược để thực hiện mục tiêu của mình.

Đề án Đổi mới giáo dục ĐH Việt Nam giai đoạn 2006-2020 đã nêu rõ mục tiêu trước năm 2020 cần đạt được “70%-80% tổng số SV theo học các chương trình nghề nghiệp - ứng dụng”. Ứng với mục tiêu này là quy hoạch Tổng thể hệ thống giáo dục ĐH 2012-2030 với 3 hoặc 4 tầng bậc, trong đó chỉ 5% số SV trong toàn hệ thống sẽ theo học tại các trường ĐH nghiên cứu và được đào tạo để trở thành các nhà khoa học tương lai. Số còn lại sẽ học trong các trường định hướng nghiên cứu (20% số SV), các trường tập trung giảng dạy (25% số SV), các trường CĐ 2 hoặc 3 năm (50% số SV).

Theo kế hoạch đó, sẽ chỉ có một số ít các trường tập trung vào hoạt động nghiên cứu và đào tạo ra các nhà khoa học. Các trường này sẽ thu hút những tài năng lỗi lạc nhất trong mọi ngành học và cũng sẽ đào tạo giảng viên có bằng tiến sĩ cho các trường ĐH khác trong cả hệ thống. Phần lớn các trường còn lại sẽ thực hiện hoạt động nghiên cứu ở mức độ cập nhật những tiến bộ mới nhất trong chuyên ngành để phục vụ cho hoạt động giảng dạy và đào tạo của mình. Do đó, trọng tâm của những trường này sẽ là đào tạo theo định hướng nghề nghiệp - ứng dụng, nghĩa là đào tạo những người có đủ năng lực vận hành khu vực sản xuất, kinh doanh và dịch vụ trong xã hội.

Như vậy, sứ mạng quan trọng nhất của những trường này là đem lại cho SV những phẩm chất, kỹ năng, tri thức mà thế giới việc làm đòi hỏi. Trong một thế giới ngày càng trở nên tương thuộc, các trường ĐH phải là nơi chủ động tạo ra mối quan hệ các bên cùng có lợi với giới DN. Mối quan hệ này không chỉ là một chiều, theo nghĩa DN hỗ trợ cho nhà trường cải thiện chương trình và nâng cao chất lượng đào tạo; mà là quan hệ hai chiều, theo nghĩa nhà trường có thể thực hiện những công trình nghiên cứu nhằm giải quyết một vấn đề cụ thể của DN, tăng năng suất và hiệu quả hoạt động của DN với nguồn tài trợ từ DN. Sự hợp tác đó còn là chuyển giao công nghệ và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, giúp tăng thu nhập cho nhà trường và giảng viên, đưa kiến thức khoa học vào cuộc sống, chương trình đào tạo được thường xuyên cập nhật.

Tuy vậy, để mở rộng những kết quả đó trong cả hệ thống, vẫn còn nhiều rào cản mà trước hết là rào cản trong nhận thức. Văn hóa trọng bằng cấp hơn thực học, bệnh thành tích và hiếu danh là những yếu tố không hỗ trợ. Trong bối cảnh đó, tầm nhìn và ý chí của người lãnh đạo sẽ là một nhân tố cốt yếu bảo đảm cho thành công của nhà trường. 

Dựa vào doanh nghiệp

Nếu các trường ĐH nghiên cứu tập trung chủ yếu cho khoa học cơ bản và cần được ngân sách quốc gia đầu tư mạnh mẽ thì những trường ĐH chọn lựa sứ mạng định hướng nghề nghiệp - ứng dụng sẽ đặt trọng tâm vào nghiên cứu ứng dụng và không cần phải dựa vào nguồn ngân sách nhà nước mà hoàn toàn có thể dựa vào các doanh nghiệp để thực hiện.

Phạm Thị Ly
(Báo người lao động)
 

Thứ trưởng GD-ĐT nói về việc phân tầng, xếp hạng các trường Đại học


VOV.VN-Phân tầng, xếp hạng các trường ĐH cũng là cơ sở để Nhà nước đầu tư cho từng loại trường nhằm hướng tới có trường đạt được thứ hạng cao trên thế giới.

Bộ GD-ĐT vừa công bố Dự thảo Nghị định về phân tầng và xếp hạng cơ sở giáo dục đại học (ĐH) để lấy ý kiến góp ý rộng rãi trong xã hội. 

Các cơ sở giáo dục ĐH sẽ được phân tầng (sắp xếp theo nhóm) và xếp hạng (sắp xếp theo thứ tự cao, thấp) về chất lượng bằng cách tính điểm do một tổ chức được Bộ GD-ĐT ủy nhiệm thực hiện.

Theo Dự thảo Nghị định, các trường ĐH được xếp thành 5 hạng khác nhau. Thứ hạng trường được tính theo phần trăm số các trường trong từng tầng và được chia theo nhóm từ cao xuống thấp. Cụ thể, hạng 1 là nhóm 10% các cơ sở đào tạo có kết quả xếp hạng cao nhất; hạng 2 là nhóm 20% các cơ sở đào tạo có kết quả xếp hạng sau hạng 1; hạng 3 là nhóm 40% các cơ sở đào tạo có kết quả xếp hạng sau hạng 2; hạng 4 là nhóm 20% các cơ sở đào tạo có kết quả xếp hạng sau hạng 3; hạng 5 là nhóm 10% các cơ sở đào tạo có kết quả xếp hạng thấp nhất.

Ngoài ra, Dự thảo Nghị định cũng phân tầng các trường ĐH theo 3 định hướng nghiên cứu, ứng dụng và thực hành.

Việc xếp hạng cơ sở giáo dục ĐH nhằm công khai minh bạch chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học của các cơ sở giáo dục đại học; đánh giá năng lực, chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học của các cơ sở giáo dục ĐH một cách khách quan. Đây cũng là cơ sở để các cơ quan quản lý Nhà nước có cơ chế đặt hàng, đầu tư phù hợp; tạo sự cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học trong toàn hệ thống giáo dục ĐH.

Xung quanh Dự thảo Nghị định về phân tầng và xếp hạng cơ sở giáo dục ĐH, VOV phỏng vấn Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga.

 Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga

Sẽ định hướng nghiên cứu, phát triển dài hạn cho các trường

PV: Xin Thứ trưởng cho biết, khi phân tầng, xếp hạng các trường ĐH sẽ mang lại lợi ích như thế nào cho việc phát triển giáo dục nước ta?

Thứ trưởng Bùi Văn Ga: Khi phân tầng, xếp hạng các trường ĐH thì chúng ta mới đặt ra những mục tiêu xếp hạng và phát triển hệ thống giáo dục ĐH một cách rõ ràng.

Hiện nay, các trường ĐH ở nước ta chưa có sự phân tầng một cách rõ ràng. Những trường nghiên cứu thì không đi sâu nghiên cứu. Những trường ứng dụng thì thiếu kỹ năng thực hành. Vì vậy, sinh viên tốt nghiệp thường bị chê là thiếu kỹ năng, không có chuyên môn sâu. Vì vậy, khi phân tầng, xếp hạng các trường ĐH sẽ định hướng được mục tiêu nghiên cứu, phát triển dài hạn cho các trường. Nhà nước cũng sẽ có cơ sở để tập trung đầu tư cho từng loại trường để trong tương lai có những trường ĐH đạt được thứ hạng cao trên thế giới.

Bộ GD-ĐT cũng vừa ban hành Dự thảo Nghị định về phân tầng và xếp hạng cơ sở giáo dục ĐH ở Việt Nam. Căn cứ vào Luật Giáo dục ĐH, việc phân tầng sẽ theo 3 nhóm: nghiên cứu, ứng dụng và định hướng nghề nghiệp.

Việc xếp hạng các trường ĐH được xếp thành 5 hạng khác nhau. Thứ hạng trường được tính theo phần trăm số các trường trong từng tầng và được chia theo nhóm từ cao xuống thấp.

Cũng như nhiều nước trên thế giới, việc phân tầng, xếp hạng các trường ĐH ở Việt Nam sẽ được thực hiện từ kiểm định chất lượng giáo dục. Tiếp theo, chúng ta mới phân tầng áp dụng ở các trường ở trong nước rồi sau đó mới tính đến phân tầng so với các trường ĐH trên thế giới.

Cơ quan độc lập ngoài ngành giáo dục sẽ tiến hành phân tầng, xếp hạng

PV: Để phân tầng, xếp hạng các trường ĐH, CĐ một cách khách quan và công bằng, nhiều ý kiến cho rằng cần giao công việc này cho cơ quan độc lập ngoài ngành Giáo dục. Ý kiến của Thứ trưởng như thế nào về vấn đề này?

Thứ trưởng Bùi Văn Ga: Bộ GD-ĐT đã tính toán những điều kiện để thực hiện việc phân tầng, xếp hạng các trường ĐH. Theo Luật Giáo dục ĐH, việc phân tầng, xếp hạng các cơ sở giáo dục ĐH sẽ do cơ quan chức năng của Nhà nước công nhận. Tuy nhiên, quá trình thực hiện sẽ do cơ quan, tổ chức độc lập tiến hành. Vì vậy, Bộ GD-ĐT sẽ đứng ra giao cho cơ quan, tổ chức có kinh nghiệm và uy tín trong xã hội đứng ra thực hiện phân tầng, xếp hạng các cơ sở giáo dục ĐH. Trên cơ sở kết quả của của cơ quan, tổ chức độc lập đó, Bộ sẽ đề trình lên cấp có thẩm quyền công nhận.

Tiêu chí sẽ phù hợp với đặc thù phát triển của các trường ĐH

PV: Việc phân tầng, xếp hạng các trường ĐH, CĐ đã được nhiều nước trên thế giới thực hiện. Tuy nhiên, ở Việt Nam còn khá mới mẻ. Liệu Việt Nam sẽ học hỏi và rút kinh nghiệm như thế nào qua việc phân phần, xếp hạng mà nhiều nước đã từng thực hiện, thưa Thứ trưởng?

Thứ trưởng Bùi Văn Ga: Việt Nam sẽ tham khảo mô hình, cách thức phân tầng, xếp hạng các cơ sở giáo dục ĐH trên thế giới. Những tiêu chí tiến hành việc làm này ở một số nước như Trung Quốc, Mỹ hay nhiều nước khác sẽ được Bộ GD-ĐT tham khảo. Tuy nhiên, chúng ta không thể bê nguyên cách thức, tiêu chí phân tầng, xếp hạng các trường ĐH ở một nước nào đó vào áp dụng cho Việt Nam.

Ở các nước trên thế giới, tiêu chí của việc phân tầng phụ thuộc rất lớn vào công tác nghiên cứu khoa học, công trình được công bố có tính ứng dụng, những bài báo được đăng tải trên tạp chí quốc tế. Tuy nhiên, vấn đề này ở nước ta chưa phải là thế mạnh nên cần phải được ưu tiên đầu tư nhiều hơn. Trước hết, chúng ta dựa vào những tiêu chí mang tính thực tiễn, thực tế mà các trường ĐH đang có hoặc đang tiến hành để phân tầng, xếp hạng một cách tương đối chính xác.

Bộ GD-ĐT sẽ nghiên cứu kỹ lưỡng tất cả những yếu tố để đưa ra bộ tiêu chí cụ thể trong phân tầng, xếp hạng các trường ĐH. Bộ tiêu chí đó không phải quá cao để không có trường nào đạt được và cũng không phải quá thấp mà sẽ là ở mức vừa phải để khi ban hành ra, sẽ có thể xếp loại được các trường đứng ở thứ hạng cao, trung bình hay thấp.

Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp tìm được việc làm sẽ là tiêu chí căn bản

PV: Nhiều ý kiến cho rằng, một trong những yếu tố quan trọng quyết định phân tầng, xếp hạng các trường ĐH là căn cứ vào tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp tìm kiếm được việc làm của từng trường. Liệu đây có phải là tiêu chí căn bản để quyết định phân tầng, xếp hạng không, thưa Thứ trưởng?

Thứ trưởng Bùi Văn Ga: Trong thời kỳ công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, Việt Nam rất cần có đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao, hội đủ các kiến thức, kỹ năng. Ngoài những tiêu chí về công tác nghiên cứu khoa học, công trình được ứng dụng đạt kết quả cao thì một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo ở các trường ĐH là dựa trên yếu tố sinh viên tốt nghiệp tìm kiếm được việc làm và làm những công việc đúng ngành nghề được đào tạo. Ngoài ra, việc phân tầng, xếp hạng còn có sự đánh giá của đơn vị sử dụng lao động đối với những sinh viên tốt nghiệp các trường ĐH.

PV: Xin cảm ơn Thứ trưởng!./.

Bích Lan/VOV.VN (thực hiện

Thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động trường đại học công lập

 

 

(Dân trí) - Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014 - 2017.

Việc thí điểm này nhằm khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học công lập chủ động khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn lực để nâng cao chất lượng đào tạo đại học và giảm chi cho Ngân sách nhà nước, đồng thời không làm giảm cơ hội tiếp cận giáo dục đại học của sinh viên nghèo, sinh viên là đối tượng chính sách.

Chính phủ quyết nghị cơ sở giáo dục đại học công lập khi cam kết tự bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động chi thường xuyên và chi đầu tư được thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm toàn diện.

Trong đó, về thực hiện nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học, các trường đại học tự chủ quyết định mở ngành, chuyên ngành đào tạo theo nhu cầu xã hội khi đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật; xác định chỉ tiêu tuyển sinh theo quy định và tổ chức tuyển sinh bảo đảm tính công khai, minh bạch.

Về tổ chức bộ máy, nhân sự, các trường đại học tự chủ quyết định thành lập mới, sáp nhập, chia, tách, giải thể; quy định chức năng, nhiệm vụ, quy chế hoạt động của các tổ chức trực thuộc.

Bên cạnh đó, quyết định cơ cấu và số lượng người làm việc; tuyển dụng viên chức, nhân viên hợp đồng lao động sau khi được Hội đồng trường thông qua; ký kết hợp đồng làm việc và hợp đồng lao động, quản lý, sử dụng và chấm dứt hợp đồng theo quy định của pháp luật; giao kết hợp đồng lao động với giảng viên, nhà khoa học là người nước ngoài để bảo đảm nhu cầu giảng dạy, nghiên cứu khoa học.

Các trường này cũng được tự chủ quyết định mức học phí bình quân (của chương trình đại trà) tối đa bằng mức trần học phí do Nhà nước quy định cộng với khoản chi thường xuyên ngân sách nhà nước cấp bình quân cho mỗi sinh viên công lập trong cả nước.

Quyết định mức học phí cụ thể (cao hoặc thấp hơn mức học phí bình quân) đối với từng ngành, nghề, chương trình đào tạo theo nhu cầu người học và chất lượng đào tạo, bảo đảm mức học phí bình quân trong nhà trường không vượt quá giới hạn mức học phí bình quân tối đa nêu trên; thực hiện công khai mức học phí cho người học trước khi tuyển sinh.

P.Thảo

Đại học Việt Nam sẽ được phân thành 5 hạng

(Dân trí) - Ngày 2/10, Bộ GD-ĐT công bố xin ý kiến rộng rãi về Dự thảo Nghị định quy định về phân tầng và xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học. Theo đó, khung xếp hạng cơ sở Giáo dục đại học bao gồm 5 hạng.

Mục đích của Dự thảo quy định này nhằm phân tầng các cơ sở giáo dục đại học, xếp hạng và khung xếp hạng các cơ sở GDĐH; quy trình, thủ tục phân tầng và xếp hạng cơ sở GDĐH.

5 hạng cơ sở giáo dục đại học được tính theo phần trăm (%) số các trường trong từng tầng, được chia theo nhóm từ cao xuống thấp, được làm tròn số, cụ thể như sau:

Hạng 1 là nhóm 10% các cơ sở đào tạo có kết quả xếp hạng cao nhất;

Hạng 2 là nhóm 20% các cơ sở đào tạo có kết quả xếp hạng sau hạng 1;

Hạng 3 là nhóm 40% các cơ sở đào tạo có kết quả xếp hạng sau hạng 2;

Hạng 4 là nhóm 20% các cơ sở đào tạo có kết quả xếp hạng sau hạng 3;

Hạng 5 là nhóm 10% các cơ sở đào tạo có kết quả xếp hạng thấp nhất.

Việc xếp hạng cơ sở giáo dục đại học được thực hiện theo chu kỳ 2 năm một lần.

Bộ Giáo dục và Đào tạo lựa chọn, uỷ nhiệm cho một tổ chức thực hiện xếp hạng các cơ sở GD ĐH.

Phân tầng cơ sở giáo dục đại học được thực hiện theo từng giai đoạn, mỗi giai đoạn 10 năm. Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phân tầng cơ sở GDĐH cho từng giai đoạn.

Dự thảo cũng ra 3 tiêu chí phân định các cơ sở giáo dục đại học là Tiêu chí cơ sở GDĐH định hướng nghiên cứuTiêu chí cơ sở GDĐH định hướng ứng dụng; Tiêu chí cơ sở GDĐH định hướng thực hành.

 

Tiêu chí cơ sở GDĐH định hướng nghiên cứu

Theo dự thảo, cơ sở GDĐH định hướng nghiên cứu có quy mô đào tạo trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ không dưới 50% tổng qui mô toàn trường;

Số chương trình đào tạo theo định hướng nghiên cứu chiếm hơn 60% tổng số các chương trình đào tạo của trường;

Có không ít hơn 70% số ngành đào tạo có các chuyên ngành đào tạo trình độ thạc sĩ;

Có không ít hơn 50% số ngành đào tạo có các chuyên ngành đào tạo trình độ tiến sĩ.

Kinh phí dành cho hoạt động khoa học công nghệ không ít hơn 25% tổng kinh phí hoạt động hằng năm của trường;

Quỹ thời gian dành cho hoạt động khoa học công nghệ của giảng viên cơ hữu có trình độ tiến sĩ không ít hơn 50% tổng thời gian làm việc hằng năm;

Ít nhất 80% các chương trình nghiên cứu, nhiệm vụ khoa học công nghệ, đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ hoặc tương đương có các nghiên cứu sinh tham gia;

Có ít nhất một cơ sở nghiên cứu khoa học cơ bản chuyên sâu hoặc một trung tâm nghiên cứu phát triển các công nghệ nguồn.

Ít nhất 40% tổng số giảng viên, nghiên cứu viên cơ hữu của trường có trình độ tiến sĩ;

Ít nhất 25% tổng số giảng viên, nghiên cứu viên cơ hữu của trường có chức danh Giáo sư, Phó giáo sư; Đào tạo và cấp bằng ít nhất 50 tiến sĩ/năm;

Hằng năm công bố ít nhất 50 bài báo, công trình nghiên cứu kết quả nghiên cứu khoa học trên các tạp chí khoa học quốc tế trong danh mục ISI, SCI;

Có ít nhất 70% số chương trình đào tạo định hướng nghiên cứu của trường được các tổ chức kiểm định chất lượng công nhận, trong đó có không ít hơn 30% số chương trình này được các tổ chức kiểm định chất lượng khu vực, quốc tế công nhận…

Tiêu chí cơ sở GDĐH định hướng ứng dụng

Là trường đại học có các chương trình đào tạo chủ yếu theo hướng ứng dụng và hoạt động khoa học công nghệ tập trung theo hướng nghiên cứu triển khai.

Đào tạo trình độ đại học và trình độ thạc sĩ là chủ yếu, một số ngành đào tạo đến trình độ tiến sĩ.

Cung cấp nguồn nhân lực chủ yếu cho giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Có các tiêu chí về đào tạo và nghiên cứu khoa học khác với các quy định của cơ sở GDĐH định hướng nghiên cứu.

Tiêu chí cơ sở GDĐH định hướng thực hành

Là trường cao đẳng trong hệ thống giáo dục đại học, có các chương trình đào tạo được thiết kế theo hướng thực hành; gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo, nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất.

Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao đẳng trở xuống phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của các địa phương; nghiên cứu chuyển giao công nghệ, xử lý những vấn đề kỹ thuật trong thực tế sản xuất và đời sống ở các địa phương.

Hồng Hạnh

Top 10 ngành dễ kiếm việc nhất 2014

 

"Cơ hội tìm việc đang rất rộng mở với một số ngành không cần bằng cấp cao", theo thống kê của timviecnhanh.com 5 tháng đầu năm 2014.

 

Bán hàng: Cơ hội rộng mở cho người tìm việc 

 

Bán hàng là công việc có nhu cầu tuyển dụng lớn nhất với 13.068 tin trong 5 tháng đầu năm 2014 và 20.512 tin tuyển dụng trong năm 2013. Hầu như doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực đều đặc biệt khát nhân viên bán hàng, vì đây là bộ phận chính yếu mang lại lợi nhuận cho công ty, tuy yêu cầu tuyển dụng đơn giản nhưng để đáp ứng được doanh thu cho đơn vị không hề dễ. 

Hầu như doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực đều đặc biệt khát nhân viên bán hàng, vì đây là bộ phận chính yếu mang lại lợi nhuận cho công ty. Ảnh minh hoạ

 

Thế nhưng cũng giống như tư vấn bảo hiểm, vị trí bán hàng cũng được coi là không ổn định và không được người lao động “ưu ái” dù tỷ lệ thất nghiệp đang khá cao. Trong phỏng vấn với báo Doanh nhân Sài Gòn, bà Đào Chân Phương - Tổng giám đốc Viện Nhân lực Ngân hàng Tài chính (BTCI) - cũng chia sẻ nỗi chật vật của các ngân hàng về mảng nhân sự này. "Ngay những vị trí yêu cầu thấp như sales cũng không dễ tuyển. Lấy ví dụ không xa, ngay 3 ngân hàng thuộc top 5 có hợp tác với BTCI để tuyển dụng cũng chưa tìm được đủ người. Có những ngân hàng còn hạ tiêu chuẩn, chỉ cần "tốt nghiệp cao đẳng, có hiểu biết về tài chính ngân hàng là một lợi thế" mà vẫn không tuyển nổi", bà cho biết. 

 

 

Tư vấn bảo hiểm: Trên 10.000 việc đang chờ người

Có tới 11.836 lượt đăng tuyển mảng tư vấn bảo hiểm, chiếm 10.3% tổng số tin tuyển dụng. Trong khi đó chỉ có 325 hồ sơ ứng tuyển trong ngành này, đứng thứ 46/56 về số lượng hồ sơ tại Timviecnhanh. Sự lệch pha này có thể do e ngại của người lao động về sự ổn định về công việc và thu nhập. 

 

Lê Hương Mai (SN 1991) cho biết đã tốt nghiệp ĐH gần 1 năm, nhưng vẫn chưa tìm được công việc ưng ý. Mai định hướng vào công việc hành chính – văn phòng, nhưng những lời mời tuyển dụng chủ yếu là vị trí tư vấn bảo hiểm. “Mình từ chối hết, vì tư vấn bảo hiểm thì ai chẳng được nhận, nhưng hầu như ít có lương cứng mà bán bao nhiêu được bấy nhiêu. Công việc và thu nhập không ổn định, nếu nói với gia đình ở quê là con đi bán bảo hiểm thì chắc gia đình sẽ không chấp nhận...” – Mai chia sẻ. 

 

 

Mảng báo chí/Biên tập viên: Khát nhân sự 

 

Công việc mảng báo chí/biên tập viên rất đa dạng và thu hút, gồm biên tập sản phẩm truyền hình, biên tập tạp chí, website, cộng tác viên dịch và viết bài hay thậm chí kinh doanh quảng cáo… với mức lương không quá cao, phổ biến từ 5-8 triệu. Lượng tin tuyển dụng tới 6129 đưa mảng báo chí/biên tập viên lên vị trí thứ 3 về lượng tin tuyển dụng, nhưng ngành này đặc biệt “khát” nhân sự với chỉ 407 hồ sơ, xếp thứ 44 trên 56 ngành về lượng hồ sơ ứng tuyển.

Nhu cầu tìm việc của sinh viên mới ra trường rất lớn. Ảnh minh hoạ 

 

“Phá băng”, bất động sản vào top 4 

 

Cũng không xuất hiện trong Top 10 năm 2013, việc ngành bất động sản trên đà “phá băng” trong những tháng đầu năm 2014 khiến nhu cầu nhân lực ngành này tăng cao với vị trí thứ 4. Công việc ngành BĐS hầu hết là vị trí kinh doanh, marketing online và tư vấn BĐS. nhưng có mức lương khá cao, trung bình từ 8-15 triệu kèm hoa hồng hấp dẫn. Mặc dù vậy, 5 tháng đầu năm 2014 chỉ có 803 hồ sơ ứng tuyển so với 4825 lượt đăng tuyển ngành BĐS. Có rất nhiều cơ hội ngành này nếu bạn là người năng động, tự tin và ưa thử thách. 

 

 

Biên dịch/Phiên dịch, cầu tăng đột biến 

 

Đứng thứ 5 là các công việc biên dịch/phiên dịch, trong khi năm 2013 ngành này chưa hề vào top tuyển dụng. Cơ hội nghề nghiệp đa dạng, mức lương có thể tới trên 30 triệu với các ngôn ngữ chính Anh, Nhật, Hoa, Đức… nhưng số lượng hồ sơ ứng tuyển biên/phiên dịch 5 tháng đầu năm 2014 chỉ là 716 so với 4602 tin tuyển dụng. Với việc Việt Nam chuẩn bị tham gia TPP, dự đoán nhu cầu nhân sự có ngoại ngữ sẽ còn tăng mạnh. 

 

 

Bưu chính viễn thông “nóng” 

 

Ngành Bưu chính viễn thông với các công việc đa dạng từ đánh máy văn bản tại nhà đến kỹ sư, trưởng phòng hệ thống mạng, hạ tầng viễn thông… đứng ở vị trí thứ 6, nguồn cung nhân sự chỉ đáp ứng được 26.32%. Mức lương trải rộng từ 3-4 triệu tới trên 30 triệu, từ nhiều doanh nghiệp nổi tiếng như Vietel, FPT… hay các doanh nghiệp tại nước ngoài. 

 

Cơ khí/Kĩ thuật ứng dụng tăng nhẹ cầu, giảm mạnh cung 

 

Cơ khí/ kỹ thuật ứng dụng đã thăng hạng từ thứ 9 năm 2013 lên thứ 7 về số tin tuyển dụng. Nếu năm 2013 có đến 6.008 hồ sơ ứng tuyển trên 5.543 tin đăng tuyển, thì 5 tháng đầu năm 2014 mới chỉ có 2.530 hồ sơ trên 4.145 tin tuyển dụng. Phải nhấn mạnh rằng đây là ngành nghề kĩ thuật nhưng không yêu cầu đào tạo chuyên sâu, chủ yếu chỉ yêu cầu trình độ trung cấp. Có rất nhiều vị trí dành cho công nhân kỹ thuật như thợ điều hòa, thợ điện nước, thi công, nhân viên bảo trì tòa nhà, điện công nghiệp… với mức lương phổ biến từ 5-8 triệu. 

 

Công nghệ thông tin sắp bão hòa nhân lực 

 

Dù không còn là một ngành quá hot như vài năm trước nhưng CNTT vẫn đang thuộc hàng top với 3.5% số tin tuyển dụng đầu năm 2014, so với 4.1% của năm 2013 thì CNTT đã sụt từ thứ 5 xuống vị trí thứ 8. Tỉ lệ cung/cầu đang ở mức 69.6%. Riêng mobile app developer vẫn đang ngày càng được săn đón nhờ sự phát triển các dòng sản phẩm smartphone của hầu hết các hãng điện thoại. Không chỉ các doanh nghiệp chuyên về công nghệ, mà hầu như mọi lĩnh vực đều cần đến nhân sự CNTT với cơ hội ngành nghề rất đa dạng.

 

Dầu khí/ Địa chất: thiếu 90% nhân lực 

 

Gần tương đương với Dệt may về số tin tuyển dụng là ngành Dầu khí/ Địa chất với vị trí thứ 9. Ngành này thậm chí “khát” nhân sự hơn nhiều với chỉ 330 hồ sơ trong 5 tháng đầu năm 2014, đáp ứng dược 10.06% nhu cầu nhân lực. Các công việc trong ngành 

 

Dầu khí/ Địa chất gồm thợ khoan, trắc địa, kỹ sư, giám sát… với mức lương phổ biến từ 5-8 triệu cho trình độ Trung cấp, Cao đẳng và từ 8-15 triệu cho trình độ Đại học, thậm chí nhiều cơ hội tuyển dụng không yêu cầu kinh nghiệm hoặc bằng cấp với mức lương từ 3-4 triệu tới 8 triệu. 

 

Dệt may: Tuyển nhiều, ứng viên ít 

 

Chỉ trong 5 tháng, đã có 3.276 tin tuyển dụng ngành dệt may, chiếm 2.8% trong tổng số 115.256 tin đăng tuyển. Trong khi đó, chỉ có 680 hồ sơ ứng tuyển, đứng thứ 37/56 ngành về số lượng hồ sơ. Các cơ hội công việc trong ngành này khá đa dạng, từ công nhân may, rập đến thiết kế quy trình công nghệ, quản đốc, thiết kế thời trang và chuyên viên kế hoạch. 

Theo dự báo của ManpowerGroup (Tập đoàn Đào tạo và cung cấp lực lượng lao động), trong khoảng 2 hoặc 3 năm tới, đầu tư của các doanh nghiệp FDI sản xuất sẽ chuyển đổi từ Trung Quốc sang VN, khiến nhu cầu tuyển dụng tăng mạnh đối với tất cả các nhóm kỹ năng lao động tại các nhà máy sản xuất, từ công nhân có tay nghề thấp tới quản lý cấp trung. “Điều này có nghĩa là nhu cầu tuyển dụng lao động lành nghề, bao gồm kỹ thuật viên và kỹ sư, trong khu vực FDI sẽ tăng đều trong những năm tới”, Giám đốc điều hành ManpowerGroup tại Thái Lan, Việt Nam và Trung Đông, Simon Matthews, nhận xét.