osoalex.com hdasianporn.club shemalex.mobi sexz.mobi ixxxtube.club hdxnxx18.com xxxfakesex.net jerkhd.com xxxteen.net

Làm lộ đề thi công chức, trưởng phòng giáo dục bị bắt

Ông Lê Quang Dẫn bị cáo buộc đã làm lộ đề thi, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả thi trong đợt tuyển dụng 151 công chức của tỉnh Đăk Nông.

Chiều tối 28/5, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Nông đã bắt tạm giam 3 tháng đối với ông Lê Quang Dẫn, Trưởng phòng Giáo dục thị xã Gia Nghĩa về tội làm lộ bí mật công tác theo Điều 286 Bộ luật Hình sự. Công an cũng thực hiện việc khám xét nơi ở và nơi làm việc của ông này.

Ông Dẫn bị cho là đã làm lộ đề thi trong đợt thi công chức năm 2013, ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả thi tuyển.

Xe đưa ông Dẫn về trụ sở công an sau khi khám xét nơi làm việc. Ảnh: Trung Thành

Trước đó, Thanh tra Bộ Nội vụ đã tiến hành thanh tra và kiến nghị Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông thành lập hội đồng thẩm định về 8 trường hợp được cộng thêm điểm môn tin học không đúng quy định, 2 trường hợp tuyển dụng bổ sung không qua thi tuyển trong đợt tuyển dụng 151 công chức năm 2013.

Bên cạnh đó, Bộ Nội vụ kiến nghị người đứng đầu tỉnh Đắk Nông cần tổ chức kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có sai phạm trong tuyển dụng và sử dụng công chức. 

Trung Thành (vnexpress)

 

Cử nhân thất nghiệp tăng đột biến, vì đâu?

Theo Thúy Vinh (báo Người Lao động)

Nhiều nguyên nhân được Bộ Giáo dục và Đào tạo lý giải cho tình trạng cử nhân thất nghiệp tăng cao nhưng nguyên nhân chính và trách nhiệm của bộ về việc tăng quy mô quá nhanh, mở trường tràn lan, không chú trọng chất lượng thì không được nhìn nhận đúng mức

 

Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) tại phiên giải trình của Chính phủ cuối tháng 4 vừa qua về việc thực hiện Luật Giáo dục ĐH và vấn đề giải quyết việc làm cho sinh viên (SV) tốt nghiệp đưa ra con số biết nói: Lao động trình độ ĐH, CĐ thất nghiệp năm 2014 so với 2010 tăng 103%.

3 năm tăng nửa triệu sinh viên

Như vậy, chỉ trong 4 năm, số lượng cử nhân thất nghiệp tăng hơn gấp đôi. Đây là con số rất đáng lo và Bộ GD-ĐT đã đưa ra nhiều nguyên nhân lý giải thực trạng này: điều kiện bảo đảm chất lượng của một số cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu của đào tạo, đội ngũ giảng viên thiếu về số lượng, không tương xứng với quy mô đào tạo, điều kiện cơ sở vật chất nghèo nàn, trang thiết bị lạc hậu; nhiều cơ sở giáo dục ĐH đào tạo chưa theo kịp sự phát triển của nền kinh tế; quy trình mở trường, cấp phép hoạt động trong một thời gian dài còn thiếu quy định chặt chẽ…

Ngoài ra, Bộ GD-ĐT còn đẩy nguyên nhân cho thị trường lao động còn sơ khai, chưa đủ thể chế để hoạt động hiệu quả; việc quy hoạch phát triển nhân lực của địa phương, bộ ngành mang tính hình thức, chưa sát thực tế; xã hội còn tâm lý chuộng bằng cấp…

Quy mô đào tạo các trường ĐH, CĐ giai đoạn 2008-2012, theo đó, giai đoạn này số lượng sinh viên ĐH, CĐ tăng lên nửa triệu người. (Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Những nguyên nhân mà Bộ GD-ĐT đưa ra đều có lý nhưng theo các chuyên gia giáo dục và các nhà nghiên cứu, nguyên nhân dẫn đến việc năm 2014 đạt đỉnh về tỉ lệ thất nghiệp chính là hậu quả của việc tăng quy mô đào tạo trình độ CĐ, ĐH 3-4 năm trước. Theo số liệu mà chúng tôi thu thập được, năm 2009-2010, quy mô SV tăng đến 47% so với năm 2004-2005 (từ hơn 1,3 triệu lên đến 1,9 triệu SV). Quy mô tiếp tục tăng mạnh vào năm 2010-2011 (ở mức hơn 2,1 triệu SV) và đạt đỉnh năm 2011-2012 ở mức hơn 2,2 triệu SV, tăng 28% so với năm 2008-2009 (1,7 triệu SV).

PGS-TS Phan Bảo Ngọc, giảng viên Trường ĐH Quốc tế - ĐHQG TP HCM, nhận định: “Năm 2008-2009, quy mô đào tạo là khoảng 1,7 triệu SV thì năm 2011-2012 đã tăng lên 2,2 triệu SV. Nếu so với quy mô đào tạo bậc ĐH của ĐHQG TP HCM (khoảng 50.000 SV) thì quy mô đào tạo giai đoạn này tăng tương đương với… 10 ĐHQG. Chỉ trong 3 năm mà tăng đến nửa triệu SV quả là con số khủng khiếp!”.

Vào ồ ạt và theo đó là số SV ra trường cũng tăng đột biến. Năm 2012-2013, số SV tốt nghiệp là hơn 425.000 người, tăng 165% so với năm 2010 và gấp 2,2 lần so với năm 2005. Thị trường lao động vì thế không thể đón nhận hết dẫn đến hậu quả tất yếu là “đỉnh” thất nghiệp chưa từng có. “Tỉ lệ thất nghiệpnăm 2014 tăng gấp đôi so với năm 2010 là hậu quả tất yếu của việc tăng quy mô đào tạo quá nhanh. Đây là triết lý nhân quả trong giáo dục mà các nhà quản lý cần nhìn nhận” - PGS-TS Ngọc nói.

Mở trường, mở ngành tràn lan

Điều đáng nói là trong việc mở rộng quy mô đào tạo, tỉ trọng SV các trường ĐH, CĐ ngoài công lập tăng chóng mặt. Nếu năm 2004-2005, ĐH ngoài công lập chỉ có khoảng 113.000 SV thì đến năm 2009-2010 là 174.000 SV (tăng trên 53%). Quy mô các trường CĐ ngoài công lập năm 2004-2005 chỉ có 25.000 SV thì đến năm 2009-2010 đã tăng gần 105.000 SV (tăng trên 300%). SV ở khu vực công lập cũng tăng đáng kể. Cụ thể, năm 2004-2005 là 933.000 SV thì đến 2009-2010 tăng gần 1,2 triệu SV (tăng 27%); bậc CĐ công lập từ 249.000 SV tăng lên 471.000 SV (tăng 90%).

Ở khu vực công lập giai đoạn này có sự tăng quy mô vượt trội do hàng loạt trường ĐH, CĐ được thành lập mới hoặc nâng cấp từ bậc thấp hơn. Chỉ trong 3 năm (giai đoạn 2010-2012) đã có tổng cộng 33 trường ĐH, CĐ thành lập, trong đó có 23 trường ĐH, CĐ công lập (18 trường ĐH, 5 trường CĐ) và 10 trường ĐH, CĐ tư thục. Thời điểm này, trường “mọc lên như nấm” từ Bắc tới Nam như Trường ĐH Nông Lâm Bắc Giang (Bắc Giang), Trường ĐH Công nghiệp Việt Trì (Phú Thọ), Trường ĐH Dầu Khí, Trường ĐH Công nghệ Giao thông Vận tải (Vĩnh Phúc), Trường ĐH Công nghiệp Việt Hung (Hà Nội), Trường ĐH Tài chính - Kế toán (Quảng Ngãi), Trường ĐH Xây dựng Miền Trung (Phú Yên); Trường ĐH Đồng Nai (Đồng Nai), Trường ĐH Kinh tế Kỹ thuật Bình Dương (Bình Dương); Trường ĐH Nguyễn Tất Thành và Trường ĐH Tài nguyên và Môi trường (TP HCM), Trường ĐH Tân Tạo (Long An), Trường ĐH Xây dựng Miền Tây (Vĩnh Long)... Nâng tổng số trường ĐH, CĐ lên 419 trường (năm 2011-2012).

Đặc biệt, có sự bất hợp lý trong cơ cấu ngành nghề đào tạo. Thống kê cho thấy năm 2011-2012 có đến 403 ngành kinh doanh quản lý; 363 ngành khoa học GD-ĐT; 280 ngành khoa học nhân văn; 232 ngành công nghệ kỹ thuật... Trong khi những ngành như nông, lâm nghiệp và thủy sản chỉ có 116 ngành; thú y: 8 ngành, môi trường và bảo vệ môi trường: 28 ngành; dịch vụ vận tải: 12 ngành... Như vậy, phần đông các trường ĐH, trong đó phần lớn là các cơ sở ngoài công lập, vẫn tập trung mở và tuyển sinh ngành dễ dạy, dễ học, dễ thu hút SV nhưng ít tốn kém cơ sở vật chất, trang thiết bị thí nghiệm, thực hành trong quá trình đào tạo.

TS Đàm Quang Minh, Hiệu trưởng Trường ĐH FPT, nhận định: Rõ ràng có sự mất cân đối ngành nghề và mở rộng quy mô tràn lan. “Chạy theo quy mô nên chất lượng giáo dục không được chú trọng. Trong khi đáng ra cần đầu tư vào những trường quy mô nhỏ nhưng chất lượng và chuyên sâu thì chúng ta lại đào tạo và mở trường, mở ngành bất hợp lý, chạy theo số lượng” - TS Minh nói.

Đào tạo nghề giẫm chân tại chỗ

Trong khi quy mô ĐH, CĐ tăng đột biến thì quy mô đào tạo nghề tăng chậm và có năm giảm. Cụ thể, năm 2010 chỉ tiêu tuyển mới dạy nghề là gần 1,7 triệu SV; năm 2012 còn hơn 1,5 triệu SV (giảm 16%).

PGS-TS Phan Bảo Ngọc cho rằng nền kinh tế Việt Nam hiện rất cần công nhân có tay nghề cao thì tại sao quy mô đào tạo nghề lại giẫm chân tại chỗ? Và hậu quả là cử nhân tốt nghiệp ĐH phải đi học nghề lại để làm việc ở các vị trí của công nhân.

Phớt lờ chuyện công khai số sinh viên có việc làm

 
Nhiều trường ĐH phớt lờ yêu cầu của Bộ GD-ĐT phải định kỳ công khai tỷ lệ sinh viên có việc làm sau 1 năm tốt nghiệp.
Sinh viên đăng ký tìm việc trong một ngày hội việc làm tại Nhà văn hóa Thanh niên TP.HCM - Ảnh: Lê Thanh
Tỷ lệ sinh viên (SV) có việc làm là một tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng đào tạo thực tế. Ở nhiều nước trên thế giới, bảng xếp hạng các trường ĐH có tiêu chí tỷ lệ SV tốt nghiệp có việc làm.
Năm 2009, Bộ ban hành thông tư kèm quy chế thực hiện công khai đối với cơ sở giáo dục. Các trường ĐH phải công khai cam kết về chất lượng giáo dục, trong đó có tỷ lệ người học có việc làm sau 1 năm ra trường. Báo cáo này phải công khai trên trang thông tin điện tử của trường chậm nhất vào tháng 4 hằng năm.
Trong dự thảo trường ĐH đạt chuẩn quốc gia Bộ GD-ĐT đang lấy ý kiến, tiêu chí quan trọng là tỷ lệ SV có việc làm đúng và phù hợp với chuyên ngành đào tạo đạt trên 75% số SV tốt nghiệp toàn khóa.
Không có thông tin gì
Xem trang web của nhiều trường ĐH, dễ dàng thấy phổ biến tình trạng để trống thông tin về tỷ lệ SV có việc làm.
Trong mục thông báo công khai chất lượng đào tạo thực tế bậc ĐH của Trường ĐH Sư phạm TP.HCM có số liệu SV tốt nghiệp khóa 2005 - 2010, nhưng cột tỷ lệ SV có việc làm lại để trống.
Biểu mẫu công khai chất lượng SV khóa 2008 - 2012 của Trường ĐH Ngoại ngữ - Tin học TP.HCM thực hiện từ năm 2013, nhưng đến nay cũng không có thông tin việc làm SV sau khi ra trường ở tất cả các ngành. Người đọc cũng không thể xem được nội dung về tỷ lệ SV có việc làm trên trang web Trường ĐH Ngân hàng TP.HCM...
Khác xa với thực tế
Một số trường có công bố tỷ lệ SV có việc làm nhưng kết quả này còn mơ hồ, thiếu sức thuyết phục so với thực tiễn. Có trường muốn công bố số liệu bao nhiêu cũng được, không có cơ quan độc lập nào kiểm chứng tính trung thực.
Có tỷ lệ nhưng người xem không thể biết được phạm vi và số lượng SV được khảo sát trong thực tế. Ví dụ, cuối năm 2014 Trường ĐH Sài Gòn đưa lên trang web tỷ lệ SV có việc làm là 91,7% (trong đó công việc phù hợp với chuyên môn đạt 87,3%). Tỷ lệ này tại Trường ĐH Lâm nghiệp cơ sở 2 (khóa 2010 - 2014) bậc ĐH cũng từ 93% trở lên, trong đó riêng ngành kế toán 100%... Trong khi đó, thực tế số liệu mà Bộ tổng hợp lại thấp hơn nhiều. Phát biểu tại phiên giải trình của Chính phủ với Ủy ban Văn hóa - Giáo dục - Thanh thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội ngày 24.4 vừa qua, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phạm Vũ Luận cho biết đa số các trường đều có tỷ lệ SV có việc làm sau 1 năm ra trường đạt ở mức khoảng 60%. Cũng theo ông Luận, trong giai đoạn 2010 - 2014, tỷ lệ người có việc làm chỉ tăng 38% trong khi số người thất nghiệp lại tăng gấp đôi con số này.
Mẫu khảo sát quá ít
Đại diện nhiều trường thừa nhận không thể biết chính xác bao nhiêu SV tốt nghiệp tìm được việc làm và làm có đúng chuyên ngành đào tạo hay không. Với những trường công khai kết quả, tỷ lệ này cũng chỉ thể hiện với số lượng nhỏ SV mà trường khảo sát được chứ không phải trên tổng số SV tốt nghiệp toàn khóa như Bộ yêu cầu.
Theo thạc sĩ Trương Tiến Sĩ, Phó trưởng phòng Đào tạo Trường ĐH Ngân hàng TP.HCM, có những đợt tốt nghiệp trường phát ra cả ngàn phiếu khảo sát nhưng chỉ thu về được khoảng 200 phiếu. Tương tự, tiến sĩ Nguyễn Duy Thục, Quyền trưởng phòng Quan hệ doanh nghiệp Trường ĐH Sài Gòn, cũng cho biết 2 - 3 năm trường mới thực hiện khảo sát một lần. Dù trường đã lấy thông tin của SV trước khi tốt nghiệp nhưng sau 1 năm liên lạc số SV phản hồi không nhiều. Ở mỗi đợt khảo sát, theo tiến sĩ Thục, trường chỉ lấy mẫu ngẫu nhiên ở mức 300 - 400 người.
Thạc sĩ Nguyễn Thái Châu, Giám đốc Trung tâm tuyển sinh và quan hệ doanh nghiệp Trường ĐH Tài chính - Marketing, nhìn nhận: “Thực sự, trường chưa khảo sát được số lượng SV như mong muốn nên không dám công bố. Đa số SV không phản hồi”. Ông Châu cho biết trường chỉ tính những phiếu khảo sát có sự xác nhận của doanh nghiệp nơi SV được tuyển dụng nhưng bản thân các doanh nghiệp rất thờ ơ với việc này.
Nên có kênh khảo sát khác ngoài trường ĐH
PGS-TS Dương Anh Đức, Phó giám đốc ĐH Quốc gia TP.HCM, cho biết nhiều trường ĐH trên thế giới rất chú trọng phát triển mạng lưới cựu SV. Đây là kênh quan trọng để trường nắm bắt được vấn đề việc làm của SV, thậm chí quá trình thăng tiến lâu dài của người tốt nghiệp từ trường mình.
Theo ông Trần Anh Tuấn, Phó giám đốc Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động (Sở LĐ-TB-XH TP.HCM), khảo sát việc làm theo địa phương sẽ chính xác hơn giao cho các trường ĐH thực hiện. Chức năng khảo sát tình trạng việc làm đã được giao cho Bộ LĐ-TB-XH, cụ thể là phòng việc làm của các sở này.

Hà Ánh (Bao TN)

Những biện pháp chống gian lận thi cử kỳ quặc nhất thế giới


Dân trí Gian lận trong thi cử luôn là vấn đề làm đau đầu những người hoạt động trong ngành giáo dục. Nhiều phương án giải quyết được đưa ra, trong đó có không ít những hình thức thi kỳ quặc.

Đội “mũ bảo hiểm giấy”



Năm 2013, tạp chí Telegraph đăng tải bài báo nói rằng trường Đại học Kasetart Bangkok, Thái Lan yêu cầu sinh viên của mình đội những chiếc “mũ bảo hiểm chống gian lận” làm bằng bìa các tông hết sức “thô sơ” trong các kỳ thi giữa và cuối kỳ. Bức ảnh minh hoạ trong bài, ban đầu vốn được ai đó post lên trang Facebook của trường, đã nhanh chóng trở nên nổi tiếng khắp cộng đồng mạng. 

Nhà trường sau đó đã nhanh chóng lên tiếng giải thích rằng thực chất buổi thi hôm đó giáo viên và tập thể lớp đã cùng nhau thảo luận cách thức chống gian lận và cùng biểu quyết cho phương án “đội mũ bảo hiểm” này. Không sinh viên nào bị ép buộc phải làm vậy, các em đều tự nguyện và đa số cảm thấy vô cùng thú vị và thư giãn hơn trong quá trình thi.

Có lẽ vì vậy mà hình thức thi này bắt đầu được “học hỏi” bởi các trường học khác ở Thái Lan với nhiều “phiên bản biến tấu” của chiếc hộp bìa các tông.

Thi giữa sân trường

Ngày 11/4 vừa qua, hơn 1.700 học sinh một trường trung học thuộc tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc đã phải ngồi dưới sân trường nắng nóng để làm bài kiểm tra.

Hình thức thi này đã từng được không ít trường học ở Trung Quốc áp dụng trước đó, với quan điểm cho rằng đây là cách tốt nhất để quan sát rõ nhất cử nhất động của thí sinh.

Chẳng hạn như trong một kỳ thi của trường Cao đẳng Shaanxi Sanhe, hơn 3800 thí sinh cũng phải ngồi giữa sân trường làm bài thi dưới sự giám sát của 80 giám thị ngồi trên thang, sử dụng ống nhòm hoặc máy ảnh có độ phân giải cực nét.


 Dùng Camera giám sát

Tuy nhiên, áp dụng phương pháp chống gian lận “cao cấp” nhất phải kể đến Gaokao- kỳ thi tuyển sinh Đại học quốc gia Trung Quốc, một trong những kỳ thi được xem là áp lực nhất thế giới. 

Với ý nghĩa “một mất một còn” trong đời, nhiều thí sinh không từ mọi thủ đoạn để gian lận, dẫn đến việc Chính phủ Trung Quốc phải đầu tư một hệ thống camera giám sát chuyên nghiệp và máy dò sóng thiết bị điện tử để ngăn chặn việc liên lạc với bên ngoài bằng tai nghe không dây, radio 2 chiều....

Thuỳ Linh Hà (tổng hợp)

 

Lý do giao Bộ LĐTB và XH quản dạy nghề chưa thuyết phục

TT - Tuổi Trẻ đã có cuộc trao đổi với ông Hoàng Ngọc Vinh - vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp Bộ GD-ĐT liên quan việc Bộ nào quản lý hệ thống giáo dục nghề nghiệp.

http://static.new.tuoitre.vn/assets/tto/c6f6b489v328/images/zoom_cursor.png), auto; display: block; background: transparent;">
 

Về điểm thứ nhất, nếu nói như vậy thì Quốc hội sẽ chẳng còn gì phải bàn nữa, và việc các đại biểu Quốc hội thảo luận ở hội trường sẽ chẳng có ích gì để hoàn thiện Luật GDNN vì đã có các cơ quan khác quyết định rồi. Chính vì có những bất cập trong quá trình soạn thảo Luật GDNN nên các đại biểu QH có ý kiến khá phân tán về việc này.

Về điểm thứ hai, cần khách quan nhìn nhận rằng Luật GDNN là trí tuệ của tập thể mang tính quốc gia với sự đóng góp của các đại biểu Quốc hội, các chuyên gia của bộ ngành, nói như vậy thì luật này là luật riêng của Bộ LĐ-TB&XH hay sao? Điều này tạo ra tiền lệ không tốt là cứ cơ quan soạn thảo sẽ là cơ quan quản lý nhà nước. Một mình Bộ LĐ-TB&XH không thể hoạch định nổi cơ chế chính sách phát triển GDNN, bởi vì GDNN là một bộ phận cấu thành hệ thống GD-ĐT, nó chịu ảnh hưởng rất lớn từ chính sách phát triển giáo dục phổ thông, giáo dục ĐH cũng như kinh nghiệm quản lý giáo dục vốn là lợi thế không thể phủ nhận của ngành giáo dục từ trung ương đến địa phương.

Về điểm thứ ba, việc lịch sử ngành dạy nghề ở lâu hơn với Bộ LĐ-TB&XH chẳng nói lên được điều gì về tính khoa học cũng như thực tiễn. Nếu nói về thành tích thì cần phải nói là ngành dạy nghề đã tiêu bao nhiêu tiền mỗi năm để đầu tư vào cơ sở vật chất, mà tỉ lệ lao động chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật vẫn còn đến trên 83% vào năm 2014.

Việc VN tham gia kỳ thi tay nghề ASEAN với thành tích như đã nêu cũng đáng tự hào, nhưng hầu hết những thí sinh đó đều thuộc các trường CĐ, ĐH, chỉ một số ít thuộc trường nghề. Hơn nữa, cái cuối cùng là đội ngũ học nghề ra có việc làm hay không và có góp phần nâng cao năng suất của lao động VN lên hay không thì câu trả lời còn bỏ ngỏ.

Về điểm thứ tư, Chính phủ giao cho Bộ LĐ-TB&XH làm nhiệm vụ xuất khẩu lao động. Nhưng thử hỏi, tỉ lệ lao động có kỹ thuật của ta ở nước ngoài chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng số, hay là chúng ta đang xuất khẩu lao động thô với đồng lương rẻ mạt. Trên thực tế, điều dưỡng CĐ và trung cấp đang được xuất sang thị trường Nhật Bản chắc chắn không phải do ngành lao động đào tạo, mà do ngành giáo dục phối hợp với ngành y tế đào tạo.

Bộ LĐ-TB&XH đã có nhầm lẫn và ngộ nhận về vai trò là cơ quan được Chính phủ giao cho tổ chức xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề, trên cơ sở phối hợp với các bộ ngành và doanh nghiệp, cũng như đại diện các ngành kinh tế, chứ không phải Bộ LĐ-TB&XH tự sản xuất ra tiêu chuẩn kỹ năng nghề.

Về điểm thứ năm, đối tượng quản lý của ngành lao động là người lao động và việc làm. Nếu nói quy mô đào tạo nghề thì cần phân biệt quy mô đào tạo ngắn hạn và đào tạo dẫn đến trình độ, đồng thời phải phân tích trong số đó nguồn đào tạo chính xác ở đâu, mới thấy được một cách khoa học vai trò và trách nhiệm của cơ quan quản lý.

 
NGỌC HÀ - XUÂN LONG gh